CayQuy.comCây Quý
Bảo tồn cây quý hiếm

Bảo tồn tại chỗ cây quý: vườn quốc gia, khu bảo tồn và vì sao giữ rừng là cách chính

Bảo tồn tại chỗ là giữ cây quý ngay trong rừng nơi nó sinh ra. Các loại rừng đặc dụng, vùng lõi, vùng đệm và vì sao cách này giữ được cả loài lẫn quan hệ sinh thái.

Aerial view of a continuous old-growth forest covering steep mountain slopes in central Vietnam, mist in the valleys, a thin river at the bottom, no roads

Bảo tồn tại chỗ (in situ) là giữ một loài cây ngay trong sinh cảnh tự nhiên của nó — khu rừng, sườn núi, thung lũng nơi loài vốn sống — bằng cách bảo vệ cả hệ sinh thái chứ không chỉ từng cây. Ở Việt Nam, công cụ chính của cách làm này là hệ thống rừng đặc dụng theo Luật Lâm nghiệp 2017, gồm vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan và một số loại rừng chuyên biệt khác.

Mọi phương pháp khác — vườn thực vật, ngân hàng hạt, nuôi cấy mô — đều được giới bảo tồn coi là phương án hỗ trợ. Lý do rất đơn giản: một cây quý không sống một mình. Nó cần nấm cộng sinh dưới đất, côn trùng thụ phấn, động vật phát tán hạt, khí hậu và đất đúng kiểu. Bài này giải thích bảo tồn tại chỗ vận hành ra sao, các loại khu bảo vệ khác nhau thế nào, và những điểm yếu của nó.

Vì sao giữ rừng tốt hơn giữ cây trong vườn

Một loài cây trong rừng là một mắt xích. Nhiều loài gỗ họ Dầu cần nấm rễ cộng sinh để cây con sống được dưới tán; các loài lan cần nấm để hạt nảy mầm; nhiều loài cây cho quả to phụ thuộc vào chim lớn, sóc, khỉ hay dơi để mang hạt đi xa khỏi gốc mẹ. Khi đưa một cây ra vườn sưu tập, các quan hệ này bị cắt. Cây có thể sống, có thể ra hoa, nhưng quần thể không tự duy trì được.

Thứ hai là đa dạng di truyền. Một quần thể tự nhiên vài trăm cây chứa những biến dị mà chính nó cần để thích nghi với sâu bệnh mới, khí hậu thay đổi. Một vườn sưu tập thường chỉ giữ được vài chục cá thể, nhiều khi từ cùng một nguồn hạt. Sau vài thế hệ trồng trong vườn, quần thể nhân tạo có thể mất phần lớn sự đa dạng đó.

Thứ ba là chi phí. Bảo vệ một khu rừng tốn tiền tuần tra, tiền hỗ trợ cộng đồng, nhưng nó giữ được hàng trăm loài cây quý cùng lúc, cùng với nước, đất và động vật. Giữ từng loài trong vườn hay ngân hàng gen tốn kém trên mỗi loài hơn nhiều. Vì vậy Chiến lược Toàn cầu về Bảo tồn Thực vật của Công ước Đa dạng sinh học đặt bảo tồn tại chỗ làm trụ cột, bảo tồn chuyển chỗ làm lưới an toàn.

Các loại rừng đặc dụng theo Luật Lâm nghiệp 2017

Luật Lâm nghiệp 2017 chia rừng thành ba loại theo mục đích: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Rừng đặc dụng là loại gắn trực tiếp nhất với bảo tồn và được chia nhỏ hơn như sau (nguyên lý, nên đối chiếu văn bản hiện hành):

LoạiMục đích chínhÝ nghĩa với cây quý
Vườn quốc giaBảo tồn hệ sinh thái đặc trưng có giá trị quốc gia, quốc tế; kết hợp nghiên cứu, giáo dục, du lịch sinh tháiNơi giữ quần thể lớn nhất của nhiều loài gỗ quý, lan, cây thuốc
Khu dự trữ thiên nhiênBảo vệ hệ sinh thái tự nhiên còn ít bị tác độngGiữ sinh cảnh cho loài cần rừng nguyên vẹn
Khu bảo tồn loài – sinh cảnhBảo vệ nơi sống của một hoặc vài loài cụ thểCó khu được lập riêng cho một loài cây quý hiếm
Khu bảo vệ cảnh quanGồm rừng di tích lịch sử – văn hoá, danh thắng, rừng tín ngưỡng, rừng bảo vệ môi trường đô thịNhiều cây cổ thụ, rừng làng giữ được nhờ loại này
Rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; vườn thực vật quốc gia; rừng giống quốc giaPhục vụ nghiên cứu, sưu tập và nguồn giốngCầu nối giữa bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ

Ngoài hệ rừng đặc dụng, một phần không nhỏ cây quý còn nằm trong rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Ở đó mức bảo vệ thấp hơn, nên nhiều đợt điều tra phát hiện cây quý ngoài khu bảo tồn đã dẫn tới đề xuất mở rộng hoặc lập khu mới.

Vùng lõi, vùng đệm và cách một khu bảo vệ được chia

Một vườn quốc gia ở Việt Nam thường được chia thành các phân khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, nơi rừng được giữ gần như nguyên trạng và hạn chế tối đa tác động; phân khu phục hồi sinh thái, nơi rừng đã bị tác động và đang được khoanh nuôi, trồng bổ sung; và phân khu dịch vụ – hành chính, nơi đặt trụ sở, khu đón khách. Bao quanh khu rừng đặc dụng là vùng đệm, gồm đất rừng và làng bản, nơi các chương trình hỗ trợ sinh kế được triển khai để giảm sức ép vào rừng.

Với cây quý, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là nơi quan trọng nhất, nhưng không phải lúc nào cây cũng nằm gọn trong đó. Nhiều loài gỗ quý mọc ở rừng thấp ven sông suối, nơi dễ tiếp cận và cũng là nơi bị khai thác sớm nhất. Ranh giới khu bảo vệ vẽ trên bản đồ theo địa hình, ranh giới hành chính và hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm lập, không phải theo vùng phân bố của từng loài.

Ở quy mô lớn hơn, Việt Nam có hơn mười khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhận, ví dụ khu dự trữ sinh quyển Langbiang ở Lâm Đồng hay Cù Lao Chàm – Hội An. Khu dự trữ sinh quyển không phải một loại rừng theo luật mà là một danh hiệu quốc tế, gồm vùng lõi thường là vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn, vùng đệm và vùng chuyển tiếp nơi con người sinh sống. Mô hình này nhấn mạnh việc bảo tồn phải đi cùng đời sống người dân xung quanh.

Những điểm yếu của bảo tồn tại chỗ

Khu bảo vệ có thể thành "rừng rỗng". Tán rừng nhìn từ trên vẫn xanh, nhưng cây gỗ quý to đã bị chặt lén, cây thuốc đã bị đào, động vật phát tán hạt đã bị săn. Từ ảnh vệ tinh không thấy được sự mất mát này; chỉ điều tra mặt đất mới phát hiện.

Diện tích nhỏ và bị chia cắt. Nhiều khu bảo tồn ở Việt Nam nhỏ, bị đường giao thông, hồ thuỷ điện, nương rẫy cắt thành mảnh. Quần thể cây quý trong mỗi mảnh nhỏ dần, giao phấn giữa các mảnh giảm, dễ rơi vào vòng xoáy của quần thể nhỏ được bàn ở bài về các mối đe doạ.

Ranh giới không theo loài. Một loài đặc hữu hẹp có thể nằm hoàn toàn ngoài khu bảo vệ. Có những loài cây được phát hiện ở núi đá vôi hay rừng thứ sinh không thuộc rừng đặc dụng, và chỉ được bảo vệ nhờ cộng đồng hoặc chính quyền địa phương quan tâm.

Biến đổi khí hậu dịch chuyển vùng sống. Các loài núi cao, ưa mát có thể phải "leo" lên cao hơn khi nhiệt độ tăng, trong khi đỉnh núi có hạn. Khu bảo vệ cố định trên bản đồ không đi theo được.

Thiếu người và thiếu tiền. Lực lượng kiểm lâm và bảo vệ rừng mỏng so với diện tích; nhiều vườn quốc gia dựa nhiều vào ngân sách và nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng, biến động theo năm.

Bảo tồn tại chỗ cho từng loài cụ thể thì làm gì thêm

Giữ rừng là điều kiện cần, nhưng với loài đã rất hiếm, ban quản lý thường phải làm thêm. Bước đầu tiên là điều tra để biết loài có ở đâu, bao nhiêu cá thể, cây con có tái sinh không. Từ đó lập danh sách cá thể cần theo dõi, gắn số, đo đạc định kỳ — việc này được trình bày kỹ ở bài về giám sát quần thể.

Bước thứ hai là xử lý mối đe doạ cụ thể: tăng tuần tra ở điểm có cây gỗ quý dễ bị chặt lén, dọn dây leo đè cây con, làm đường băng cản lửa quanh quần thể ở rừng khô, rào bảo vệ cây con khỏi gia súc thả rông. Có nơi phải che giấu hoặc không công bố vị trí chính xác của quần thể, để tránh thu hút người tìm mua.

Bước thứ ba là bổ sung quần thể ngay tại chỗ: thu hạt từ chính cây trong khu, ươm ở vườn ươm của vườn quốc gia, rồi trồng lại dưới tán rừng gần quần thể cũ. Cách này khác với đưa cây ra vườn sưu tập ở chỗ cây con vẫn mang nguồn gen địa phương và sống lại trong sinh cảnh gốc. Phần này nối sang các bài về nhân giống và phục hồi quần thể.

Cuối cùng là cộng đồng. Không khu bảo tồn nào ở Việt Nam đứng tách khỏi làng bản xung quanh. Khi người dân vùng đệm có sinh kế ổn định, được nhận khoán bảo vệ rừng, được chia lợi ích từ du lịch hay dịch vụ môi trường rừng, sức ép vào cây quý giảm rõ rệt. Điều này có bài riêng về cộng đồng giữ rừng.

Vài khu bảo vệ gắn với tên tuổi cây quý ở Việt Nam

Vườn quốc gia Cúc Phương, nay thuộc tỉnh Ninh Bình sau sáp nhập, là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam, thành lập năm 1962. Rừng trên núi đá vôi ở đây được biết đến với những cây cổ thụ lớn và là nơi các thế hệ nhà thực vật Việt Nam học nghề điều tra rừng. Trong vườn có cả khu vườn thực vật và trung tâm cứu hộ, tức là bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ đặt cạnh nhau.

Ở Tây Nguyên, Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà trên cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) được nhắc nhiều với rừng lá kim hỗn giao, nơi có pơ mu, thông hai lá dẹt và nhiều loài lá kim khác. Vườn quốc gia Kon Ka Kinh ở Gia Lai cũng được biết đến với rừng pơ mu. Mô tả chi tiết từng loài có ở danh mục cây bản địa Tây Nguyên; ở đây chỉ nêu để thấy vai trò của khu bảo vệ trong việc giữ các quần thể lá kim lớn còn lại.

Bên cạnh vườn quốc gia, có những khu bảo tồn quy mô nhỏ hơn được lập hoặc mở rộng với lý do chính là một vài loài cây đặc biệt, và những khu rừng di tích, rừng làng giữ được cây cổ thụ hàng trăm năm nhờ thuộc diện bảo vệ cảnh quan. Mỗi khu có quy chế và ranh giới riêng; khi cần biết chính xác một cây có nằm trong khu bảo vệ hay không, nguồn đáng tin là ban quản lý khu và cơ quan kiểm lâm sở tại, không phải bản đồ trên mạng.

Câu hỏi thường gặp

Bảo tồn tại chỗ và bảo tồn chuyển chỗ khác nhau thế nào?

Bảo tồn tại chỗ giữ loài trong sinh cảnh tự nhiên của nó, bằng cách bảo vệ cả khu rừng. Bảo tồn chuyển chỗ đưa cây, hạt hay mô ra khỏi nơi sống tự nhiên để giữ ở vườn thực vật, ngân hàng hạt, phòng nuôi cấy mô. Hai cách bổ sung cho nhau, nhưng giới bảo tồn coi tại chỗ là trụ cột.

Rừng đặc dụng có những loại nào?

Theo Luật Lâm nghiệp 2017, rừng đặc dụng gồm vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu và thực nghiệm khoa học, vườn thực vật quốc gia và rừng giống quốc gia. Nên đối chiếu văn bản hiện hành vì quy định có thể được sửa đổi.

Cây quý nằm ngoài vườn quốc gia thì có được bảo vệ không?

Việc bảo vệ một loài không chỉ phụ thuộc vào việc cây nằm trong khu bảo tồn. Loài thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm vẫn chịu sự quản lý theo pháp luật dù mọc ở rừng phòng hộ hay rừng sản xuất. Tuy vậy, mức tuần tra và quản lý thực tế ngoài khu bảo tồn thường thấp hơn.

Vì sao không đưa hết cây quý về vườn để dễ bảo vệ?

Vì cây trong vườn mất các quan hệ sinh thái như nấm cộng sinh, côn trùng thụ phấn, động vật phát tán hạt, và vườn chỉ giữ được ít cá thể nên đa dạng di truyền giảm dần. Vườn sưu tập là lưới an toàn khi quần thể ngoài tự nhiên quá nguy kịch, không thay được rừng.

Vùng đệm của vườn quốc gia có ý nghĩa gì với cây quý?

Vùng đệm là dải đất và làng bản bao quanh khu rừng đặc dụng. Các chương trình hỗ trợ sinh kế, giao khoán bảo vệ rừng, trồng cây bản địa ở vùng đệm giúp giảm nhu cầu vào rừng lấy gỗ, cây thuốc. Vùng đệm cũng là nơi có thể trồng bổ sung loài quý để nối các mảnh rừng.

Khu dự trữ sinh quyển có phải là vườn quốc gia không?

Không hẳn. Khu dự trữ sinh quyển là danh hiệu do UNESCO công nhận, bao gồm vùng lõi thường là vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn, vùng đệm và vùng chuyển tiếp có dân cư. Nó không phải một loại rừng theo luật mà là mô hình quản lý kết hợp bảo tồn và phát triển.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.