Ngoài rừng, khi tán cây cao ba bốn chục mét và lá, hoa, quả đều ngoài tầm với, người làm rừng nhận cây chủ yếu qua thân: dáng thân và gốc, kiểu nứt hay bong của vỏ ngoài, màu và mùi của lớp vỏ trong, và thứ nhựa hoặc mủ chảy ra. Một người quen rừng có thể gọi tên phần lớn cây quen thuộc của một vùng chỉ bằng mấy dấu hiệu ấy, nhưng đó là nhận ra cây quen, không phải định loài một cây lạ.
Bài này trình bày các dấu hiệu thân cây theo thứ tự người điều tra thực vật vẫn đọc, kèm ví dụ ở các loài quen thuộc của rừng Việt Nam, và nói rõ chỗ dừng của phương pháp: khi nào dấu hiệu thân đủ để gọi tên, khi nào phải chờ hoa quả, và vì sao không bao giờ tự mình phạt, đẽo hay nếm vỏ những cây đang được bảo vệ.
Vì sao thân cây là dấu hiệu đầu tiên trong rừng
Sách thực vật mô tả loài chủ yếu bằng hoa và quả, vì đó là bộ phận ổn định nhất về mặt di truyền. Nhưng trong rừng nhiệt đới, hoa quả của nhiều loài cây gỗ chỉ xuất hiện vài tuần mỗi năm, có loài vài năm mới sai quả một lần, và chúng thường nằm trên đỉnh tán, nhìn từ dưới đất chỉ thấy một mảng xanh. Lá cũng ở rất cao; lá rụng dưới gốc thì lẫn với lá của hàng chục cây xung quanh.
Thân thì luôn ở đó, ngay trước mặt, quanh năm. Vì vậy các đội điều tra rừng, kiểm lâm, thợ rừng lâu năm đều học đọc thân trước. Trong nghề điều tra tài nguyên rừng, người ta gọi đây là nhận biết cây đứng: ghi tên cây ngay tại ô đo đếm mà không cần chặt hạ hay leo lên lấy mẫu.
Điểm yếu của cách này là dấu hiệu thân thay đổi theo tuổi cây và nơi mọc. Cây non vỏ nhẵn, cây già vỏ nứt sâu; cây mọc ở chỗ ẩm vỏ phủ rêu, cây chỗ trống vỏ bạc màu nắng. Hai loài cùng chi thường có thân gần như giống hệt nhau. Người đọc thân giỏi là người biết dấu hiệu nào ổn định với loài nào, và biết lúc nào mình đang đoán.
Dáng thân, gốc và cách phân cành
Thân thẳng hay cong, tròn hay có múi. Cây ưa sáng mọc trong rừng kín thường vươn thẳng, cành dưới tự rụng, để lại thân trụ dài như các cây họ Dầu hay chò. Những cây như sưa, trắc thường phân cành sớm, thân ngắn, hay cong. Một số loài có thân lồi lõm thành múi, rãnh dọc, dễ nhận từ xa.
Gốc có bạnh vè hay không. Bạnh vè là những tấm rễ dẹt như cánh, chạy từ thân xuống đất, giúp cây cao đứng vững trên đất mỏng. Rừng nhiệt đới có nhiều cây bạnh lớn như chò, sấu, một số loài họ Dầu, họ Gòn. Chiều cao bạnh, bạnh mỏng hay dày, thẳng hay uốn lượn là dấu hiệu tốt để tách nhóm cây.
Rễ chống, rễ thở và rễ phụ. Cây rừng ngập mặn có rễ chống hình nơm như đước, rễ thở nhô lên như mắm; họ Dâu tằm như đa, si có rễ phụ thả từ cành. Thông nước sống chỗ ngập có những đầu rễ nhô lên khỏi mặt nước. Kiểu rễ thường gắn chặt với môi trường sống nên vừa giúp nhận loài, vừa nhắc bạn đang đứng ở sinh cảnh nào.
Kiểu phân cành và hình tán. Có loài phân cành thành tầng ngang như bàng; có loài tán hình nón khi non như nhiều cây lá kim; có loài tán xoè thưa. Dáng tán chỉ đọc được ở cây đứng riêng hoặc ven rừng, trong rừng kín tán bị chèn ép nên ít tin cậy.
Đọc vỏ ngoài: màu, mặt vỏ và cách bong
Vỏ ngoài là lớp tế bào chết bảo vệ thân. Cách nó nứt hay bong do cấu tạo lớp bần của từng loài quyết định, nên khá ổn định ở cây trưởng thành. Bảng dưới là các kiểu vỏ hay dùng khi mô tả, kèm ví dụ quen thuộc để hình dung, không phải dấu hiệu riêng của loài nào.
| Kiểu vỏ | Mô tả | Ví dụ để hình dung |
|---|---|---|
| Nhẵn | Mặt vỏ trơn, ít nứt, thường có lỗ vỏ chấm nhỏ | Nhiều cây họ Dâu tằm như si, đa khi còn trẻ |
| Nứt dọc sâu | Rãnh dọc chạy dài, gờ vỏ dày | Nhiều loài dầu, thông già |
| Nứt ô vuông | Vỏ nứt cả dọc lẫn ngang thành mảng như vảy rùa | Một số loài thị, mun ở cây già |
| Bong mảng | Vỏ bong từng mảng để lại vết loang lổ màu khác | Bằng lăng, ổi, một số loài họ Sim |
| Bong sợi | Vỏ xơ, tước được thành sợi dài | Nhiều cây họ Hoàng đàn như pơ mu, bách |
| Có gai, u lồi | Gai trên thân hoặc u lồi do chồi ngủ | Gạo, gòn khi còn trẻ có gai hình nón |
Khi ghi chép, nên tả vỏ ở độ cao ngang ngực, nơi người điều tra rừng vẫn đo đường kính, và ghi kèm đường kính ước lượng, vì vỏ cây non và cây già cùng loài có thể khác nhau hoàn toàn. Rêu, địa y và nấm phủ trên vỏ cũng làm sai màu thật; nhìn vào chỗ vỏ sạch hoặc vết vỏ mới bong tự nhiên.
Vỏ trong và vết đẽo: dấu hiệu nghề rừng, không phải việc của người đi rừng
Dưới lớp vỏ chết là vỏ trong còn sống, nơi dẫn nhựa luyện từ lá xuống rễ. Màu vỏ trong (trắng, hồng, đỏ, vàng, nâu), cấu trúc (lớp mỏng, sợi, có vân), mùi (thơm, hắc, chua, mùi tỏi) và thời gian đổi màu khi gặp không khí là nhóm dấu hiệu mà sách nhận biết cây rừng nhiệt đới rất coi trọng. Thợ rừng xưa gọi việc này là phát vỏ hay đẽo vỏ: lấy dao vạt một vết nhỏ trên thân rồi xem.
Đây là kỹ thuật của người điều tra có nhiệm vụ, trong ô nghiên cứu được phép, làm trên cây thường và giữ vết đẽo nhỏ nhất có thể. Mỗi vết đẽo là một vết thương hở cho nấm và côn trùng xâm nhập. Với cây quý hiếm, cây cổ thụ, cây trong khu bảo tồn hay cây có chủ, người không có nhiệm vụ tuyệt đối không phát vỏ để thử. Việc gây thương tích cho cây thuộc loài được bảo vệ còn có thể vi phạm pháp luật.
Bạn vẫn có thể quan sát vỏ trong ở những chỗ cây tự lộ ra: vết nứt do sét, cành gãy, vết thương cũ đã có sẵn, hoặc gốc cây đã bị chặt hạ. Ghi màu ngay khi nhìn thấy, vì nhiều loài đổi màu sau vài phút.
Nhựa, mủ và mùi: bằng chứng hoá học đọc bằng giác quan
Mủ trắng như sữa. Thường gặp ở họ Dâu tằm (đa, si, mít), họ Trúc đào (hoa sữa, sữa), họ Thầu dầu và họ Hồng xiêm. Gặp mủ trắng là đã khoanh được nhóm họ khá hẹp. Nhiều loại mủ gây kích ứng da, mắt; không quệt lên mặt, không nếm.
Nhựa dầu, nhựa thơm. Các loài họ Dầu như dầu rái, sao, chai cho nhựa dầu hoặc nhựa thơm chảy từ vết thương; người miền núi từng khoét gốc cây dầu để lấy dầu rái trét thuyền. Họ Trám có nhựa thơm trong suốt đông lại thành cục. Cây lá kim chi Thông có nhựa thông.
Nhựa đỏ như máu. Một số cây họ Đậu như các loài giáng hương (chi Pterocarpus) tiết nhựa đỏ thẫm khi bị thương, khô lại thành cục giòn. Đây là dấu hiệu nổi bật, nhưng không phải loài nào cho nhựa đỏ cũng là giáng hương.
Mùi vỏ và mùi gỗ tươi. Vỏ và gỗ họ Re (long não, re, gù hương) thường có mùi tinh dầu; nhiều cây họ Hoàng đàn thơm nhẹ; có loài mùi hắc khó chịu. Mùi là dấu hiệu chủ quan, hai người tả hai kiểu, nên ghi bằng so sánh với mùi quen như mùi gừng, mùi chanh, mùi nhựa.
Đừng bao giờ nếm. Vỏ lim xanh chứa alkaloid độc; nhựa một số cây họ Xoài gây phỏng da; mủ nhiều loài họ Thầu dầu gây bỏng mắt. Sách cũ có ghi vị vỏ như một dấu hiệu, nhưng đó là việc của người được đào tạo trên loài đã biết, không áp dụng ngoài rừng.
Thân cây đổi theo mùa: rụng lá, ra lá non và sau mưa
Cùng một thân cây, nhìn vào mùa khô và mùa mưa có thể thấy khác. Mùa mưa, vỏ ướt sẫm màu, rêu và địa y xanh lên, các vết nứt trông sâu hơn; mùa khô, vỏ bạc, bong vảy rõ hơn. Ảnh chụp sau cơn mưa thường làm người xem đoán sai màu vỏ, nên khi ghi chép hãy ghi kèm thời tiết.
Ở rừng khộp và rừng bán thường xanh của Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, nhiều cây rụng lá gần hết vào mùa khô. Đó là lúc thân cây và dáng cành lộ rõ nhất, cũng là lúc nhiều loài như giáng hương, cẩm lai ra hoa hoặc ra lá non. Người đi rừng kinh nghiệm tận dụng mùa này để nhận cây từ xa qua màu lá non, màu hoa, rồi mới lại gần đọc thân.
Với cây lá kim và cây thường xanh, thân ít đổi theo mùa hơn, nhưng nhựa chảy nhiều hơn vào mùa nóng. Ghi mùa quan sát không chỉ để mô tả cho đúng, mà còn giúp người khác biết nên quay lại vào thời điểm nào để thấy hoa quả và chốt tên.
Ghi chép một cây đứng sao cho người khác kiểm tra được
Nhận dạng chỉ có giá trị khi người khác lặp lại được. Phiếu ghi chép tối thiểu của người điều tra thường có các mục sau, áp dụng được cả khi bạn chỉ chụp ảnh gửi chuyên gia:
- Vị trí chung (tỉnh, sinh cảnh, độ cao ước lượng) và ngày quan sát; với loài quý hiếm thì không công khai toạ độ chính xác.
- Đường kính ngang ngực và chiều cao ước lượng; dáng thân, có bạnh vè hay không, bạnh cao bao nhiêu.
- Kiểu vỏ ngoài, màu vỏ, có gai, u, lỗ vỏ hay không; ảnh chụp vỏ kèm vật làm thước như bàn tay, thước dây.
- Có nhựa hoặc mủ chảy từ vết thương sẵn có không, màu gì, mùi gì.
- Lá rụng dưới gốc, quả hoặc hạt rơi, nếu chắc chắn là của cây đó (nhìn lên tán đối chiếu).
- Những cây cùng loài nghi ngờ ở gần đó: so nhiều cá thể giúp tách dấu hiệu của loài khỏi đặc điểm riêng của một cây.
Một phiếu như vậy kèm năm, sáu tấm ảnh rõ thường đủ để người có kinh nghiệm thu hẹp về một nhóm loài, và cho biết cần quay lại vào mùa hoa hay mùa quả để chốt tên.
Giới hạn: khi nào thân cây không đủ để gọi tên
Các chi lớn của rừng Việt Nam như dẻ, giẻ, re, bời lời, chò, sao, giổi có hàng chục loài với vỏ gần giống nhau. Ở những chi này, thân cây chỉ giúp xác định chi, còn loài cần lá, hoa, quả, có khi cần cả giải phẫu gỗ. Một người tự tin gọi tên loài chỉ bằng vỏ trong các chi ấy nhiều khả năng đang nhầm.
Cây quý hiếm lại thường là cây ít gặp nhất, nghĩa là chính người đi rừng cũng ít có dịp so sánh. Đó là lý do các báo cáo khoa học về loài quý luôn kèm mẫu tiêu bản có hoa hoặc quả, lưu ở phòng tiêu bản, chứ không chỉ ảnh vỏ cây. Với bạn đọc phổ thông, đọc thân cây là để hiểu và quan sát rừng tinh hơn, để biết đặt câu hỏi đúng cho chuyên gia; còn kết luận một cây có phải loài quý hiếm hay không, muốn chắc phải giám định ở cơ quan chuyên môn.
Câu hỏi thường gặp
Có thể nhận ra cây gỗ quý chỉ nhờ vỏ cây không?
Với vài loài có vỏ đặc trưng thì người quen rừng nhận được, nhưng phần lớn cây gỗ quý thuộc những chi có nhiều loài vỏ giống nhau. Vỏ chỉ giúp khoanh nhóm. Muốn gọi đúng tên loài cần thêm lá, hoa, quả, và với gỗ đã khai thác thì cần giải phẫu gỗ hoặc giám định.
Đẽo một vết nhỏ trên thân cây để xem vỏ trong có hại không?
Có. Mỗi vết đẽo là cửa ngõ cho nấm, mối, sâu đục thân, nhất là với cây già. Kỹ thuật này chỉ dành cho người điều tra có nhiệm vụ trên cây thường. Với cây quý hiếm, cây cổ thụ, cây có chủ hay cây trong rừng đặc dụng thì không được tự ý đẽo.
Vì sao cùng một loài mà vỏ cây non và cây già khác hẳn nhau?
Lớp bần của vỏ dày dần theo năm. Ở cây non vỏ còn mỏng nên nhẵn; khi thân to ra, lớp vỏ ngoài không giãn kịp nên nứt, bong theo kiểu riêng của loài. Vì vậy mô tả vỏ luôn phải kèm đường kính cây, và nên so với nhiều cá thể.
Mủ trắng chảy ra từ cây có nguy hiểm không?
Nhiều loại mủ trắng gây kích ứng da và rất hại cho mắt, một số có độc tính khi nuốt phải. Khi quan sát chỉ nhìn, không quệt tay rồi dụi mắt, không nếm. Nếu mủ dính vào mắt, rửa nhiều nước sạch và đến cơ sở y tế.
Ghi chép vị trí cây quý hiếm có nên đăng công khai không?
Không nên công khai toạ độ chính xác của cây quý hiếm, kể cả trong ảnh có gắn vị trí. Đã có nhiều trường hợp cây bị khai thác trộm sau khi thông tin lan truyền. Chỉ nên ghi vị trí chung, toạ độ chi tiết thì gửi riêng cho cơ quan quản lý hoặc nhà khoa học.
Người mới bắt đầu nên học đọc thân cây từ đâu?
Cách hiệu quả là đi cùng người có kinh nghiệm trong một khu rừng đã có danh lục, chọn mười, hai mươi loài phổ biến và quan sát nhiều cá thể của từng loài ở các độ tuổi. Các vườn thực vật, khu rừng thực nghiệm có cây gắn tên cũng là nơi tốt để luyện mắt trước khi vào rừng tự nhiên.