Cách nhanh nhất để phân biệt các loài thông bản địa ở Tây Nguyên là đếm số lá mọc chung trong một bẹ: thông ba lá (Pinus kesiya) có ba lá, thông năm lá Đà Lạt (Pinus dalatensis) có năm lá mảnh mềm, thông nhựa (Pinus merkusii) có hai lá dài cứng. Ba loài còn tách nhau rõ về độ cao và sinh cảnh: thông nhựa ở vùng thấp khô cạnh rừng khộp, thông ba lá phủ các cao nguyên khoảng một nghìn tới hai nghìn mét, thông năm lá mọc rải rác trong rừng ẩm trên núi cao.
Loài thông thứ tư của vùng, thông hai lá dẹt, có lá dẹt bản rất khác thường và đã có bài riêng. Bài này đi qua ba loài còn lại: cách nhận dạng, nơi mọc, cách mỗi loài sống chung với lửa và vì sao rừng thông Đà Lạt lại trông thuần một loài như vậy.
Nhận dạng ngoài thực địa trong bốn bước
Không cần dụng cụ gì ngoài đôi mắt và một cành lá rụng. Thứ tự dưới đây đi từ đặc điểm chắc chắn nhất tới đặc điểm phụ trợ.
- Đếm lá trong bẹ. Nhặt một bó lá còn nguyên ở gốc cây, tách nhẹ ở phần bẹ màu nâu: ba lá là thông ba lá, năm lá là thông năm lá, hai lá dài cứng là thông nhựa. Thỉnh thoảng thông ba lá có bó hai lá xen lẫn, nên đếm vài bó để chắc.
- Sờ và đo lá. Lá thông năm lá rất mảnh, mềm rủ, mặt cắt hình tam giác nhỏ. Lá thông ba lá mảnh nhưng cứng hơn, dài cỡ một gang tay. Lá thông nhựa dài hơn và dày, cứng, khi bẻ thấy giòn.
- Xem nón. Nón thông ba lá hình trứng, vảy dày cứng, thường còn bám trên cây sau khi mở. Nón thông năm lá thuôn dài, vảy mỏng, mềm hơn. Nón thông nhựa thuôn, vảy cứng, mấu vảy nổi rõ.
- Đặt vào bối cảnh. Dưới khoảng chín trăm mét, gần rừng khộp, gần như chắc là thông nhựa. Rừng thuần trên đồi trống của cao nguyên Lâm Viên hay Di Linh là thông ba lá. Một cây thông lẻ giữa rừng ẩm, rêu phủ ở độ cao lớn thì đáng nghĩ tới thông năm lá.
Phương pháp đếm lá có giới hạn ở cây non mới mọc, vì lá đầu tiên của cây mầm mọc đơn lẻ chứ chưa thành bó. Với cây trưởng thành, đếm lá gần như luôn đủ để tách ba loài này với nhau.
Nên nhặt lá rụng còn tươi dưới gốc thay vì bẻ cành, nhất là trong vườn quốc gia, nơi việc bẻ cành, hái nón là không được phép. Lá rụng lâu ngày dễ tách rời khỏi bẹ, đếm sẽ sai; chọn bó lá còn xanh, bẹ còn bó chặt.
Thông ba lá: loài tạo nên cảnh quan Đà Lạt
Thông ba lá (Pinus kesiya, tên cũ Pinus khasya) có vùng phân bố rất rộng, từ đông bắc Ấn Độ qua Myanmar, Thái Lan, Lào tới Philippines và nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, loài mọc tự nhiên chủ yếu trên cao nguyên Lâm Viên, Di Linh và vùng Kon Plông, ngoài ra có ở vài nơi phía Bắc. Cây cao hai mươi tới ba mươi mét, thân thẳng, vỏ dày nứt dọc thành mảng màu nâu sẫm, cành tầng phía dưới tự rụng nên thân trơn, tán gọn ở phần ngọn.
Thông ba lá là loài ưa sáng mạnh, sinh trưởng tốt trên đất trống, kể cả đất feralit nghèo. Khả năng chiếm đất trống ấy giải thích cảnh quan quen thuộc của Đà Lạt: những sườn đồi chỉ có thông, dưới tán là cỏ và thảm lá kim. Trong sinh thái học, rừng thông ba lá thuần loài thường được coi là một dạng rừng gắn với lửa và tác động của con người: nơi rừng lá rộng ban đầu bị chặt, đốt hay phát nương, thông ba lá chiếm chỗ nhanh hơn các loài lá rộng và duy trì thế thuần loài nhờ những đám cháy lướt định kỳ.
Lớp vỏ dày là "áo giáp" chống lửa: cháy dưới tán thường chỉ làm sém vỏ, cây trưởng thành sống sót, trong khi cây con các loài lá rộng bị loại bỏ. Nếu ngừng cháy lâu năm, dưới tán thông dần xuất hiện dẻ, sồi, các loài lá rộng chịu bóng, và rừng có xu hướng chuyển dần thành rừng hỗn giao. Vì vậy câu hỏi "rừng thông Đà Lạt có tự nhiên không" không có câu trả lời đơn giản: loài là bản địa, nhưng hình dạng rừng thuần loài phần nào là sản phẩm của lịch sử sử dụng đất. Bên cạnh rừng tự nhiên còn có diện tích lớn rừng thông ba lá trồng từ thời Pháp và các chương trình trồng rừng sau này.
Thông năm lá Đà Lạt: loài được mô tả từ chính cao nguyên Lâm Viên
Thông năm lá Đà Lạt (Pinus dalatensis) được nhà thực vật Pháp Yvette de Ferré mô tả năm 1960, với mẫu chuẩn lấy từ vùng Đà Lạt — đúng như tên loài. Loài thuộc nhóm thông năm lá (phân chi Strobus), họ hàng với các loài thông trắng ở vùng ôn đới. Ngoài Lâm Đồng, thông năm lá được ghi nhận ở khối núi Ngọc Linh, vùng núi Đà Nẵng (Quảng Nam cũ), Khánh Hòa và một số khối núi cao khác dọc Trường Sơn Nam; có tài liệu ghi nhận thêm ở Lào.
Cây cao tới ba mươi mét hoặc hơn, vỏ cây non nhẵn màu xám, về già nứt thành mảng. Năm lá mảnh, mềm, mọc chung một bẹ, màu xanh hơi lam với các dải lỗ khí trắng ở mặt trong, tạo cho tán cây vẻ mềm mại hơn hẳn thông ba lá. Nón thuôn dài, vảy mỏng, khi chín rủ xuống, hạt có cánh.
Khác với thông ba lá, thông năm lá không tạo rừng thuần. Loài mọc rải rác trong rừng kín thường xanh và rừng hỗn giao lá kim – lá rộng ở độ cao lớn, thường trên khoảng 1.400 – 1.500 mét, đứng chung với pơ mu, thông hai lá dẹt, các loài dẻ, sồi, re. Sự rải rác ấy khiến loài dễ bị tác động khi rừng bị chặt hoặc cháy lan lên cao. Loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam; mức đánh giá của IUCN và của danh mục trong nước có thể thay đổi giữa các lần cập nhật, nên khi cần trích dẫn, cần tra bản mới nhất.
Một chi tiết đáng chú ý là các nhà phân loại từng mô tả thêm biến thứ của thông năm lá ở các vùng khác nhau, phản ánh sự biến dị giữa các quần thể sống trên những khối núi cách xa nhau. Đây là kiểu phân bố "đảo trên trời" quen thuộc của thực vật núi cao: mỗi đỉnh núi là một hòn đảo mát giữa biển đất thấp nóng.
Thông nhựa: thông của vùng thấp và rừng khô
Thông nhựa (Pinus merkusii; quần thể ở lục địa Đông Nam Á nhiều tài liệu tách thành Pinus latteri) là loài thông hai lá phân bố rộng ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam, loài có ở nhiều vùng từ Bắc vào Nam; tại Tây Nguyên, thông nhựa gặp ở độ cao thấp hơn hẳn thông ba lá, thường vài trăm tới khoảng một nghìn mét, trên đồi khô, đất nghèo, nhiều khi ở rìa hoặc xen trong rừng khộp cùng các cây họ Dầu.
Cây cao hai mươi tới ba mươi mét, vỏ dày nứt sâu, lá hai chiếc một bẹ, dài và cứng. Như tên gọi, thông nhựa cho nhiều nhựa, từng được trích nhựa ở nhiều vùng để chưng cất tùng hương và dầu thông phục vụ công nghiệp. Vết trích nhựa hình xương cá trên thân là dấu vết dễ nhận ra ở những rừng thông nhựa từng được khai thác.
Một đặc điểm sinh học thú vị được nhiều tài liệu mô tả ở các quần thể thông nhựa lục địa là giai đoạn cây con "dạng cỏ": vài năm đầu, cây gần như không vươn thân mà phát triển rễ và một búi lá sát mặt đất, chồi ngọn được che chở trong búi lá. Đây là kiểu thích nghi với lửa thường gặp ở các loài thông sống trong thảm cỏ hay cháy: đám cháy lướt qua chỉ làm sém lá, chồi ngọn sống sót, đến khi rễ đủ khoẻ cây mới vươn nhanh lên khỏi tầm lửa.
Bảng tóm tắt ba loài
Bảng dưới gom các đặc điểm đã nêu để tra nhanh. Độ cao là khoảng thường gặp, không phải ranh giới tuyệt đối.
| Đặc điểm | Thông ba lá | Thông năm lá Đà Lạt | Thông nhựa |
|---|---|---|---|
| Tên khoa học | Pinus kesiya | Pinus dalatensis | Pinus merkusii (P. latteri) |
| Số lá trong bẹ | 3 | 5 | 2 |
| Lá | Mảnh, khá cứng | Rất mảnh, mềm, xanh hơi lam | Dài, dày, cứng |
| Nón | Hình trứng, vảy dày | Thuôn dài, vảy mỏng | Thuôn, vảy cứng |
| Độ cao thường gặp | Khoảng 1.000 – 2.000 m | Thường trên 1.400 m | Vài trăm tới khoảng 1.000 m |
| Kiểu rừng | Rừng thuần trên đồi trống | Rải rác trong rừng ẩm núi cao | Đồi khô, rìa rừng khộp |
| Quan hệ với lửa | Vỏ dày, chịu cháy lướt | Kém chịu lửa | Vỏ dày, cây con dạng cỏ |
Đọc theo cột cuối, có thể thấy lửa là yếu tố sắp xếp các loài thông ở Tây Nguyên không kém gì độ cao. Hai loài chịu lửa chiếm những vùng khô, trống và thường cháy; loài kém chịu lửa lui vào rừng ẩm trên cao, nơi lửa hiếm khi lan tới.
Những hiểu lầm thường gặp về thông Tây Nguyên
"Thông nào ở Đà Lạt cũng là một loài." Thực ra quanh Đà Lạt có cả thông ba lá phổ biến, thông năm lá trên các đỉnh núi cao, thông hai lá dẹt ở vùng núi phía bắc, chưa kể các loài thông nhập nội trồng thử như thông caribê ở vài nơi. Gặp một cây thông lạ, đếm lá là bước đầu tiên.
"Rừng thông là rừng nghèo, không đáng giữ." Rừng thông thuần ít loài cây gỗ hơn rừng thường xanh, nhưng giữ đất trên sườn dốc, điều tiết nước cho các hồ, suối của cao nguyên và là sinh cảnh của nhiều loài lan, nấm, chim riêng. Mất rừng thông trên đồi dốc thường kéo theo xói mòn rất nhanh.
"Thông năm lá là cây cảnh, ở đâu cũng có." Trên thị trường cây cảnh có những cây gọi là "thông năm lá" nhưng thường là các loài thông nhập nội như thông năm lá Nhật. Thông năm lá Đà Lạt là loài bản địa sống ở rừng núi cao, không phải cây cảnh phổ biến.
"Cứ trồng thông là phủ xanh được đồi trọc." Thông ba lá đúng là loài tiên phong trên đất trống, nhưng rừng thông trồng thuần một tuổi rất dễ cháy lan, ít giá trị đa dạng sinh học và có thể bị sâu róm hại hàng loạt. Nhiều chương trình phục hồi rừng ở cao nguyên hiện chuyển sang trồng xen thông với các loài lá rộng bản địa như dẻ, re, giổi, để rừng tiến dần về trạng thái hỗn giao ổn định hơn.
Câu hỏi thường gặp
Thông ba lá có phải cây đặc hữu của Đà Lạt không?
Không. Thông ba lá là loài bản địa nhưng phân bố rộng từ đông bắc Ấn Độ qua Đông Nam Á tới Philippines. Điều đặc biệt ở Đà Lạt là loài tạo thành những rừng thuần rộng lớn trên cao nguyên, gắn với cảnh quan và lịch sử của thành phố.
Vì sao dưới tán rừng thông ít cây khác?
Có ba lý do chính: thảm lá kim rụng dày và chậm phân huỷ làm đất chua, khó cho cây con nhiều loài; cháy lướt định kỳ loại bỏ cây con không chịu lửa; và thông ba lá ưa sáng, mọc thưa, để lại tầng dưới cho cỏ chiếm chỗ. Khi lâu không cháy, cây lá rộng dần quay lại.
Thông năm lá Đà Lạt có hiếm không?
Thông năm lá mọc rải rác, không thành rừng thuần, ở những khối núi cao tách biệt nhau, và có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Số lượng cá thể cụ thể phụ thuộc từng đợt điều tra nên không có con số chung đáng tin cậy.
Thông nhựa có còn được trích nhựa ở Tây Nguyên không?
Hoạt động trích nhựa thông phụ thuộc chính sách và quy hoạch từng địa phương, ở nhiều nơi tập trung vào rừng trồng. Rừng thông nhựa tự nhiên trong rừng đặc dụng, phòng hộ chịu các quy định quản lý riêng. Muốn biết cụ thể cần hỏi cơ quan lâm nghiệp địa phương.
Làm sao biết một cây thông là tự nhiên hay trồng?
Rừng trồng thường có cây cùng cỡ, xếp theo hàng hoặc theo băng, khoảng cách khá đều. Rừng tự nhiên có cây nhiều cỡ tuổi đứng không đều, xen cây lá rộng. Hồ sơ quản lý rừng của chủ rừng là nguồn chắc chắn nhất.
Thông caribê ở Tây Nguyên có phải cây bản địa không?
Không. Thông caribê có nguồn gốc vùng Trung Mỹ và Caribê, được đưa vào Việt Nam trồng thử và trồng rừng. Nó có ba tới năm lá một bẹ nên đôi khi bị nhầm với thông ba lá hoặc thông năm lá.