Gụ là tên chung của một số loài cây gỗ lớn thuộc chi Sindora, họ Đậu, ở Việt Nam có hai loài nổi tiếng nhất là gụ lau (Sindora tonkinensis) mọc chủ yếu ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, và gụ mật (Sindora siamensis) mọc chủ yếu ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Gỗ lõi gụ màu nâu vàng đến nâu sẫm, vân đẹp, thơm nhẹ, được xếp vào nhóm I và từng là loại gỗ được chuộng bậc nhất cho sập, tủ chè, đồ thờ ở miền Bắc.
Chuyện đồ gỗ gụ xưa, cách nhận ra một bộ sập gụ thật thuộc về các trang chuyên đồ cổ. Bài này đi theo hướng khác: cây gụ sống trong rừng trông thế nào, mọc ở đâu, gỗ lõi gụ hình thành ra sao và những gì đang đe doạ các quần thể gụ còn lại.
Chi Sindora: họ hàng của gụ
Sindora là một chi nhỏ trong họ Đậu, phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á và một loài ở châu Phi. Các loài trong chi đều là cây gỗ lớn, lá kép lông chim chẵn (số lá chét chẵn, không có lá chét ở ngọn), hoa nhỏ mọc thành chùm, quả đậu dẹt hình tròn hoặc bầu dục ngắn, chứa một vài hạt to có áo hạt. Quả của nhiều loài Sindora có gai hoặc u lồi trên vỏ, một đặc điểm khá riêng trong họ Đậu.
Cách nhận diện chi Sindora dựa chủ yếu vào hoa và quả. Hoa có đài bốn thuỳ, thường có gai hoặc lông, nhưng chỉ có một cánh hoa phát triển, các cánh khác tiêu giảm, một kiểu hoa khá lạ trong họ Đậu. Nhà thực vật xếp Sindora vào phân họ Vang (Caesalpinioideae, theo hệ thống cũ), cùng nhóm với lim, gõ đỏ, me, muồng. Theo hệ thống phân loại họ Đậu do nhóm nghiên cứu phát sinh chủng loại họ Đậu (LPWG) công bố năm 2017, Sindora được tách sang phân họ Detarioideae cùng với gõ đỏ và me, còn lim ở lại phân họ Caesalpinioideae.
Ở Việt Nam, ngoài gụ lau và gụ mật, tài liệu thực vật còn ghi nhận một số loài và thứ khác, có tên địa phương như gõ mật, gõ dầu, gụ biển. Tên gọi giữa miền Bắc và miền Nam không trùng nhau: người miền Nam hay gọi Sindora siamensis là "gõ mật", trong khi chữ "gõ" ở miền Bắc ít dùng. Khi tra tài liệu, bạn nên đối chiếu tên khoa học để khỏi lẫn với gõ đỏ, một loài khác hẳn thuộc chi Afzelia.
Gụ lau: loài gỗ quý của rừng miền Bắc
Gụ lau (Sindora tonkinensis) là cây gỗ lớn, có thể cao hơn hai mươi lăm mét, thân thẳng, vỏ màu xám nâu, bong vảy. Cây mọc trong rừng thường xanh nhiệt đới ở vùng thấp và trung du, thường gặp ở các tỉnh Bắc Trung Bộ như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và một số nơi ở Bắc Bộ, cũng có ghi nhận ở Lào, Campuchia và Thái Lan.
Lá kép gồm vài đôi lá chét hình trứng hoặc thuôn, dai, mặt trên bóng. Hoa nhỏ, có lông, mọc thành chùm ở đầu cành. Quả đậu gần tròn, dẹt, vỏ nhẵn hoặc có ít u, khi chín nứt hai mảnh để lộ hạt đen có áo hạt màu vàng. Áo hạt thu hút chim và động vật nhỏ, giúp phát tán hạt.
Gỗ lõi gụ lau màu nâu vàng khi mới xẻ, dần sẫm lại theo năm tháng thành màu nâu đen bóng, vân đẹp, có mùi thơm nhẹ. Gỗ nặng vừa phải, ít co ngót, ít cong vênh, dễ chạm khắc và đánh bóng, nên hợp làm đồ mỹ nghệ, đồ thờ, sập, tủ. Đây là loài bị khai thác mạnh nhất trong các loài gụ, và quần thể ngoài tự nhiên nay đã bị chia cắt, suy giảm nghiêm trọng.
Gụ mật: anh em phương Nam
Gụ mật (Sindora siamensis), miền Nam quen gọi là gõ mật, phân bố ở rừng thường xanh và nửa rụng lá vùng thấp, phổ biến hơn ở Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và một phần Tây Nguyên, sang cả Campuchia, Thái Lan, Lào. Cây chịu khô hạn khá tốt, có thể mọc ở rừng thưa trên đất cát pha.
So với gụ lau, gụ mật thường có tán rộng hơn, lá chét nhỏ hơn và quả có nhiều gai hoặc u nhọn trên vỏ, là đặc điểm hữu ích để phân biệt ngoài thực địa. Thân cây khi bị đẽo tiết ra một loại nhựa dầu trong, thơm, được người dân một số vùng dùng để trét thuyền, thắp đèn. Cái tên "mật" có lẽ đến từ màu nhựa và màu gỗ lõi.
Gỗ gụ mật màu nâu đỏ đến nâu sẫm, nặng và cứng hơn một chút so với gụ lau, cũng được dùng làm đồ gỗ cao cấp, sàn nhà, đồ mỹ nghệ. Quần thể gụ mật ở Việt Nam còn rộng hơn gụ lau nhưng cũng đã giảm nhiều do khai thác và chuyển đổi rừng.
Gụ lau và gụ mật khác nhau ở những điểm nào
Bảng dưới đây giúp phân biệt hai loài gụ quen thuộc nhất. Ngoài thực địa nên kết hợp nhiều dấu hiệu, vì từng cá thể có thể sai khác.
| Đặc điểm | Gụ lau (Sindora tonkinensis) | Gụ mật (Sindora siamensis) |
|---|---|---|
| Vùng phân bố chính ở Việt Nam | Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ | Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, một phần Tây Nguyên |
| Kiểu rừng | Rừng thường xanh vùng thấp, trung du | Rừng thường xanh và nửa rụng lá, rừng thưa |
| Vỏ quả | Nhẵn hoặc có ít u | Thường có nhiều gai, u nhọn |
| Nhựa thân | Ít nhựa | Có nhựa dầu thơm khi đẽo vỏ |
| Gỗ lõi | Nâu vàng, sẫm dần theo thời gian | Nâu đỏ đến nâu sẫm, nặng hơn chút |
Trong đồ gỗ đã hoàn thiện, việc phân biệt gỗ của hai loài bằng mắt thường rất khó, nhất là khi đã qua sơn phủ, đánh bóng. Đây là lý do việc giám định loài gỗ cần mẫu và phương pháp của phòng thí nghiệm chuyên ngành.
Vì sao gụ trở nên hiếm
Có ba áp lực cộng dồn. Thứ nhất là khai thác chọn: người đi rừng nhắm thẳng vào cây gụ to, có gỗ lõi tốt, để lại những cây nhỏ và cây cong. Qua nhiều lượt khai thác, quần thể chỉ còn cây non và cây kém chất lượng, nguồn giống bị nghèo đi. Thứ hai là mất sinh cảnh: rừng thường xanh vùng thấp, nơi gụ mọc, cũng là nơi dễ chuyển thành đất nông nghiệp, rừng trồng cây mọc nhanh. Thứ ba là tái sinh chậm: hạt gụ to, phát tán gần, cây con mọc chậm và dễ bị gia súc, lửa rừng tiêu diệt.
Cả hai loài gụ đều có tên trong các danh mục bảo tồn trong nước, và từng được đánh giá trong Danh lục đỏ IUCN. Mức xếp hạng cụ thể thay đổi theo các lần đánh giá nên bạn hãy tra Sách Đỏ Việt Nam và trang IUCN bản mới nhất. Ở mức nguyên lý, khai thác, vận chuyển, mua bán gỗ gụ có nguồn gốc rừng tự nhiên đều phải tuân theo quy định về thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Bảo tồn và trồng lại gụ: những việc đang làm
Gụ là loài được quan tâm trong các chương trình trồng cây gỗ lớn bản địa. Một số hướng chính:
- Giữ cây mẹ trong các khu rừng còn tốt. Các vườn quốc gia và khu bảo tồn ở Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ là nơi còn những cá thể gụ trưởng thành làm nguồn giống.
- Thu hạt và nhân giống trong vườn ươm. Hạt gụ cần gieo sớm sau khi thu vì sức nảy mầm giảm nhanh; vỏ hạt cứng thường được xử lý nước ấm để nảy mầm đều.
- Trồng hỗn giao dưới tán. Cây gụ con ưa bóng nhẹ giai đoạn đầu, thích hợp trồng dưới tán rừng thứ sinh hay xen với cây mọc nhanh, sau đó mở tán dần khi cây lớn.
- Theo dõi lâu dài. Gụ cần nhiều thập kỷ mới có gỗ lõi đáng kể; các ô trồng thử nghiệm cần được ghi chép đều đặn để biết loài phát triển thế nào trên từng loại đất.
Với người yêu cây, một cách góp phần là tôn trọng những cây gụ còn lại trong làng, trong rừng, không thu hái hạt tuỳ tiện ở khu bảo tồn, và chỉ dùng cây giống có nguồn gốc rõ ràng.
Gụ trong đời sống người Việt xưa
Ở miền Bắc, gỗ gụ gắn với những đồ vật quan trọng nhất trong nhà: sập gụ, tủ chè, án thư, hoành phi, câu đối, đồ thờ. Một bộ sập gụ từng là tài sản lớn của gia đình khá giả, được truyền qua nhiều đời. Thợ mộc các làng nghề đồng bằng Bắc Bộ quen tay với gỗ gụ vì nó vừa đủ cứng để giữ nét chạm, vừa đủ dịu để đục, bào, và khi đánh bóng bằng sáp, dầu thì lên màu sâu, ấm.
Cách làm đồ gụ xưa cũng cho thấy thợ hiểu gỗ thế nào. Họ chọn phần gỗ lõi, loại bỏ gỗ giác dễ mọt, phơi hoặc hong gỗ nhiều năm trước khi đóng đồ để gỗ ổn định, rồi dùng mộng, chốt gỗ thay cho đinh sắt. Nhờ thế nhiều đồ gụ trăm năm vẫn khít, không lỏng mộng.
Ở miền Nam, gõ mật cũng được dùng làm bàn ghế, tủ thờ, sàn nhà trong những ngôi nhà cổ của địa chủ, thương nhân. Một số ngôi nhà cổ ở Nam Bộ còn giữ những bộ cột, ván bằng gõ đến nay.
Những đồ vật ấy là di sản văn hoá vật thể đáng quý; nhưng nhìn từ phía rừng, mỗi bộ sập, mỗi chiếc tủ là một hoặc vài cây gụ lớn đã bị hạ. Nhu cầu đồ gỗ gụ kéo dài qua nhiều thế kỷ, cộng với mở rộng đất canh tác, đã đẩy quần thể gụ lau ở miền Bắc xuống mức rất thấp. Giữ đồ gỗ gụ xưa trong nhà là giữ di sản; tìm thêm gỗ gụ mới từ rừng tự nhiên là việc đã không còn phù hợp.
Những nhầm lẫn thường gặp quanh tên gụ
Vì tên gụ có giá trị trên thị trường, nó bị gắn vào khá nhiều loại gỗ khác. Một số trường hợp hay gặp trong sách báo và ngoài đời:
- Gụ và gõ đỏ. Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa) cũng là cây họ Đậu, gỗ quý, nhưng thuộc chi khác, quả to dày hoá gỗ, hạt đen có áo hạt đỏ cam. Chữ "gõ" làm nhiều người nghĩ hai loài là một.
- Gụ và gỗ nhập khẩu mang tên gụ. Nhiều loại gỗ nhập từ các nước trong khu vực hay châu Phi được gọi là "gụ" kèm tên nước. Đó có thể là loài Sindora khác hoặc một loài khác hẳn có màu gần giống.
- Gụ lau và "gụ ta". "Gụ ta" là cách người miền Bắc gọi gỗ gụ trong nước để phân biệt với gỗ ngoại; về mặt thực vật nó thường chỉ gụ lau, nhưng không phải lúc nào cũng vậy.
- Gỗ gụ và gỗ nhuộm. Một số loại gỗ rẻ được nhuộm màu, phủ sơn để giả màu gụ lâu năm. Phương pháp so sánh thớ và mùi gỗ được bàn ở danh mục nhận biết của trang.
Câu hỏi thường gặp
Gỗ gụ thuộc nhóm mấy?
Gụ lau và gụ mật thường được xếp vào nhóm I trong bảng phân loại gỗ Việt Nam, nhóm của gỗ quý có màu sắc, vân thớ đẹp. Nhóm gỗ là cách phân loại để sử dụng, khác với danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm trong luật bảo tồn.
Gụ mật và gõ mật có phải là một không?
Thường là một. Sindora siamensis được miền Bắc gọi là gụ mật, miền Nam gọi là gõ mật. Cần phân biệt với gõ đỏ, là loài Afzelia xylocarpa thuộc chi khác, gỗ và hình dạng cây khác hẳn.
Làm sao nhận ra cây gụ trong rừng?
Gụ là cây gỗ lớn họ Đậu, lá kép lông chim chẵn với vài đôi lá chét dai, bóng; quả đậu dẹt gần tròn chứa vài hạt đen có áo hạt vàng. Gụ mật có quả nhiều gai và nhựa dầu thơm khi đẽo vỏ, gụ lau quả nhẵn hơn.
Vì sao gỗ gụ để lâu lại sẫm màu?
Các hợp chất phenol và chất màu trong gỗ lõi bị ô xy hoá dưới tác động của không khí và ánh sáng, làm màu chuyển từ nâu vàng sang nâu sẫm, nâu đen. Lớp dầu, sáp đánh bóng theo năm tháng cũng góp phần tạo màu bóng sâu.
Trồng gụ bao lâu thì có gỗ lõi?
Gụ mọc chậm, cần nhiều thập kỷ mới có gỗ lõi đáng kể, tuỳ đất, khí hậu và cách chăm sóc. Không có con số chính xác chung cho mọi nơi; các thử nghiệm trồng rừng bản địa đang tiếp tục theo dõi tốc độ này.
Gụ có tên trong Sách Đỏ Việt Nam không?
Các loài gụ quan trọng có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và các danh mục quản lý thực vật rừng. Mức xếp hạng có thể thay đổi giữa các lần đánh giá, nên khi cần chính xác hãy tra ấn bản mới nhất và văn bản pháp luật hiện hành.