Bên cạnh cây đa, cây đề, cây gạo, nhiều làng Việt còn giữ những gốc thị, muỗm, dã hương, sấu, đại (sứ) rất già, nhiều cây đã được công nhận Cây Di sản Việt Nam. Đây là những loài sống lâu, gỗ khá bền, tán đẹp, lại gắn với đời sống hằng ngày: quả thị thơm trong ca dao, quả muỗm, quả sấu ăn được, hoa đại trắng trong sân chùa. Mỗi loài có đặc điểm sinh học, kiểu già và kiểu suy yếu riêng.
Bài này giới thiệu năm loài theo góc người giữ cây: nhận ra chúng thế nào, vì sao chúng có mặt ở đình, chùa, đền, và những điều cần lưu ý để giữ một gốc cổ thụ của loài đó. Tuổi các cây được nêu đều là ước tính theo thông tin công bố, không phải số đo chính xác.
Cây thị: quả thơm, gỗ đen và những gốc già ở sân đình
Cây thị mà người miền Bắc quen gọi là loài Diospyros decandra, cùng chi với cây mun, cây hồng, cây vàng (thị rừng). Cây gỗ trung bình đến lớn, thân sẫm màu, vỏ nứt thành mảnh nhỏ, tán tròn và dày. Lá đơn, mọc so le, hơi dai. Hoa nhỏ màu trắng ngà; quả tròn dẹt, khi chín vàng rực, có mùi thơm đặc trưng lan xa, gắn với hình ảnh "quả thị" trong truyện cổ tích Tấm Cám.
Cây thị lớn chậm, gỗ cứng và nặng, nhờ vậy những gốc thị già có thân chắc, ít rỗng ruột hơn so với đa hay gạo. Ở nhiều làng đồng bằng Bắc Bộ, gốc thị cổ đứng ở sân đình, cổng chùa, đầu ngõ, cạnh giếng. Mùi quả chín vào cuối hè, đầu thu là một phần ký ức của người làng, và trẻ con nhặt quả rụng là chuyện quen thuộc.
Khi giữ một cây thị cổ, cần lưu ý cây thị không ưa úng. Sân bị nâng nền, nước đọng quanh gốc lâu ngày làm rễ thối. Cây cũng dễ bị nấm và mối ở những vết cắt cành lớn cũ, nên việc cắt tỉa cần đúng kỹ thuật. Vì thị lớn chậm, một cây chu vi vừa phải đã có thể có tuổi khá cao, nên đừng đánh giá cây thị bằng kích thước như đánh giá cây đa.
Cây muỗm: họ hàng của xoài và những hàng cây ở đền, miếu
Muỗm, còn gọi là quéo ở một số nơi, là loài Mangifera foetida theo nhiều tài liệu thực vật học, cùng chi với cây xoài. Cây gỗ lớn, thân thẳng, tán rộng và rậm, lá dày, dài, cứng. Quả giống quả xoài nhỏ, khi chín có mùi rất nồng, vị chua ngọt, được ăn tươi hoặc dầm. Nhựa ở vỏ và quả xanh có thể gây ngứa, rộp da với người nhạy cảm, nên trẻ con được dặn không trèo cây khi cây đang ra quả non.
Ở đồng bằng Bắc Bộ, muỗm hay được trồng ở đền, miếu, nhà thờ họ, cũng như ven đê, ven đường làng. Lý do khá thực tế: cây cho bóng mát quanh năm, ít rụng lá đồng loạt, sống lâu và gỗ khá bền. Một hàng muỗm già dọc lối vào đền tạo nên vòm xanh rất đặc trưng.
Muỗm có bộ rễ lan rộng, nên những gốc muỗm cổ hay bị ảnh hưởng khi lối vào di tích được mở rộng, lát đá, hoặc khi đường làng được bê tông hoá sát gốc. Cây cũng dễ bị sâu đục thân và nấm ở những chỗ cành gãy do bão. Như với mọi cây cổ thụ, giữ vùng rễ thông thoáng là việc quan trọng nhất.
Cây dã hương: gỗ thơm và gốc cây nghìn năm ở Tiên Lục
Dã hương là tên gọi dân gian chỉ một số loài cây thuộc chi Quế (Cinnamomum), họ Long não, có gỗ và lá thơm. Tài liệu không thống nhất hoàn toàn về tên khoa học của các cây dã hương cổ thụ ở từng nơi, nên khi cần chính xác, nên xem mẫu lá, hoa, quả và tham khảo nhà thực vật học. Điểm chung là cây gỗ lớn, sống lâu, lá vò có mùi thơm như long não, gỗ thơm và bền.
Cây dã hương được nhắc đến nhiều nhất là cây ở xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang cũ của tỉnh Bắc Giang, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh sau sáp nhập 2025. Cây đã được công nhận Cây Di sản Việt Nam; theo thông tin địa phương và báo chí, tuổi cây được ước tính khoảng một nghìn năm. Thân cây rất lớn, nhiều người ôm mới xuể, và gốc cây gắn với một di tích thờ tự của làng.
Dã hương cổ thụ ở Tiên Lục là ví dụ điển hình cho việc cộng đồng tự giữ cây qua nhiều thế hệ. Cũng chính vì gỗ thơm, các cây dã hương lớn ở nhiều nơi từng bị khai thác, nên những gốc còn lại thường là ở đất di tích, nơi người dân kiêng chặt. Khi chăm sóc dã hương cổ, cần chú ý các cành lớn mục gãy do tuổi và các hốc thân, đây là chỗ dễ bị mối, nấm tấn công.
Cây sấu: cây phố và cây làng của đồng bằng Bắc Bộ
Sấu là loài Dracontomelon duperreanum, họ Đào lộn hột, cùng họ với xoài, muỗm. Cây gỗ lớn, thân thẳng, có bạnh vè ở gốc khi già, vỏ xám nâu bong mảng. Lá kép lông chim, mỗi năm thay lá vào khoảng cuối đông, đầu xuân, lá non màu đỏ nâu rất đẹp. Quả sấu tròn, chua, mùa sấu vào giữa hè, là nguyên liệu quen thuộc trong bếp Hà Nội.
Sấu vừa là cây làng vừa là cây phố. Ở làng, những gốc sấu già đứng ở sân đình, sân chùa, ven ao. Ở Hà Nội, sấu được trồng trên nhiều tuyến phố trong khu trung tâm từ lâu, đến nay nhiều cây đã có kích thước cổ thụ. Gốc sấu già với bạnh vè xoè rộng là hình ảnh quen thuộc trên vỉa hè phố cổ.
Sấu có bộ rễ khoẻ, bạnh vè lớn, nhưng chính đặc điểm này làm cây dễ va chạm với vỉa hè, móng nhà, đường ống. Ở đô thị, cây sấu già hay bị bó gốc trong ô đất nhỏ, rễ bị cắt khi lát lại vỉa hè. Ở làng, cây có không gian rộng hơn, nhưng lại gặp vấn đề sân bị nâng nền và lát kín. Khi muốn giữ một cây sấu cổ, cần chừa ô đất quanh gốc đủ rộng và tránh cắt bạnh vè.
Cây đại (sứ): cây nhỏ mà sống rất lâu trong sân chùa
Cây đại, miền Nam gọi là cây sứ, thuộc chi Plumeria, họ Trúc đào, có nguồn gốc từ châu Mỹ nhiệt đới, được đưa vào Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước và nay rất quen thuộc. Cây gỗ nhỏ, thân mập, phân cành nhiều, vỏ xám, nhựa mủ trắng. Hoa đại trắng nhuỵ vàng, có loại hoa đỏ, hồng, thơm nhẹ, nở nhiều vào mùa hè.
Đại không cao lớn như đa hay lim, nhưng có thể sống rất lâu. Những gốc đại già trong sân chùa, sân đình, nghĩa trang làng có thân sần sùi, uốn lượn, cành xoè rộng, nhiều cây được người dân ước tuổi vài trăm năm. Một số gốc đại cổ đã được công nhận Cây Di sản Việt Nam, cho thấy danh hiệu không chỉ dành cho những cây khổng lồ.
Gỗ đại mềm, xốp, nên thân già hay rỗng và dễ gãy cành khi có bão. Cây chịu hạn tốt nhưng không chịu úng; gốc bị đọng nước dễ thối. Khi giữ một cây đại cổ, việc quan trọng là thoát nước tốt quanh gốc, đỡ những cành ngang quá dài và hạn chế người trèo, đu lên cành, vốn là chuyện hay gặp ở sân chùa có trẻ em.
Năm loài đặt cạnh nhau
Bảng dưới tóm tắt đặc điểm giúp nhận ra và giữ năm loài. Thông tin mang tính khái quát, mỗi cây cụ thể có thể khác tuỳ nơi mọc và lịch sử chăm sóc.
| Loài | Tên khoa học | Dấu hiệu nhận biết | Điểm yếu khi già |
|---|---|---|---|
| Thị | Diospyros decandra | Thân sẫm, vỏ nứt mảnh nhỏ; quả tròn dẹt vàng, rất thơm | Không chịu úng; vết cắt cành lớn dễ nhiễm nấm |
| Muỗm | Mangifera foetida | Lá dày dài; quả như xoài nhỏ, mùi nồng; nhựa gây ngứa | Rễ lan rộng dễ bị hại khi lát lối vào; sâu đục thân |
| Dã hương | Cinnamomum (cần giám định loài) | Lá vò thơm như long não; gỗ thơm | Cành lớn mục gãy; hốc thân bị mối, nấm |
| Sấu | Dracontomelon duperreanum | Bạnh vè lớn; lá kép lông chim, lá non đỏ nâu; quả chua | Rễ, bạnh vè bị cắt khi lát vỉa hè, sân |
| Đại (sứ) | Plumeria spp. | Thân mập, nhựa trắng; hoa trắng nhuỵ vàng thơm | Gỗ mềm, rỗng, gãy cành; thối gốc khi úng |
Điểm chung của cả năm loài là sống được rất lâu khi vùng rễ thông thoáng và không bị chặt tỉa sai. Những gốc cổ thụ còn lại ngày nay phần lớn nằm ở đất di tích, nơi cộng đồng đã giữ chúng qua nhiều thế hệ.
Vì sao những gốc già này còn lại ở đình chùa mà ít còn ngoài đồng
Nếu đi dọc một vùng quê đồng bằng, có thể thấy cây cổ thụ thị, muỗm, dã hương gần như chỉ còn ở khu di tích, rất hiếm gặp ngoài ruộng, ngoài vườn nhà. Lý do không nằm ở sinh học của cây mà ở cách con người dùng đất. Cây trong vườn nhà qua nhiều đời chủ dễ bị chặt lấy gỗ, lấy đất làm nhà, chia thừa kế. Cây ngoài đồng vướng việc canh tác, làm thuỷ lợi.
Trong khi đó, đất đình, chùa, đền, miếu là đất chung của cộng đồng, ít thay đổi mục đích qua nhiều thế kỷ, lại có những quy ước, kiêng kỵ dân gian không cho chặt cây trong khuôn viên. Chính những quy ước ấy đã làm thay việc của luật bảo tồn từ khi chưa có luật. Khi một khu di tích được tôn tạo, việc giữ lại những gốc cổ thụ và vùng rễ của chúng là cách tôn trọng cả cây lẫn lớp quy ước cộng đồng đã giữ cây suốt chừng ấy năm.
Trồng thế hệ cây cổ thụ mới cho làng
Cây cổ thụ hôm nay là cây non của vài trăm năm trước. Muốn làng có cây cổ thụ cho đời sau, cần trồng từ bây giờ. Nguyên tắc đầu tiên là chọn loài bản địa, sống lâu, hợp đất: thị, muỗm, sấu, lim, dã hương, gạo, đa đều là lựa chọn tốt ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, tuỳ chỗ trống và độ ẩm.
Nguyên tắc thứ hai là chừa đất. Một cây sẽ thành cổ thụ cần khoảng không đủ rộng cho tán và rễ, cách xa móng nhà, đường dây điện, đường ống. Trồng sát tường đình vì muốn có bóng mát ngay là đặt sẵn mâu thuẫn cho mấy chục năm sau. Nguyên tắc thứ ba là lấy giống từ chính cây mẹ trong vùng khi có thể, như ươm hạt thị, hạt muỗm của gốc cổ thụ trong làng, vừa giữ nguồn gen thích nghi với địa phương, vừa nối câu chuyện giữa cây cũ và cây mới. Cuối cùng, ghi lại năm trồng, người trồng: thế hệ sau sẽ không phải đoán tuổi cây như chúng ta hôm nay.
Câu hỏi thường gặp
Cây thị cổ thụ sống được bao lâu?
Cây thị lớn chậm, gỗ cứng, có thể sống nhiều trăm năm trong điều kiện thuận lợi. Tuổi các gốc thị cổ ở đình chùa thường chỉ là ước tính dựa vào tư liệu và lời kể, vì cây thị khó đếm vòng năm nếu không khoan lấy mẫu.
Muỗm và xoài khác nhau thế nào?
Muỗm và xoài cùng chi Mangifera. Muỗm có quả nhỏ hơn, mùi rất nồng, vị chua hơn, lá dày và dài, nhựa dễ gây ngứa da. Muỗm thường được trồng làm cây bóng mát lâu năm ở đền miếu, ven đê, còn xoài chủ yếu trồng lấy quả.
Cây dã hương nghìn năm ở đâu?
Cây dã hương được biết đến nhiều nhất ở xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang cũ của tỉnh Bắc Giang, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh sau sáp nhập 2025. Cây đã được công nhận Cây Di sản Việt Nam, tuổi được ước tính khoảng một nghìn năm theo thông tin địa phương và báo chí.
Cây đại có phải cây bản địa Việt Nam không?
Không. Cây đại hay cây sứ thuộc chi Plumeria có nguồn gốc từ châu Mỹ nhiệt đới, được đưa vào Việt Nam từ lâu và nay trở nên rất quen thuộc ở sân chùa, sân đình. Dù là loài nhập nội, nhiều gốc đại cổ đã được công nhận Cây Di sản nhờ tuổi và giá trị văn hoá.
Vì sao cây sấu ở phố hay bị nghiêng đổ?
Cây sấu trên phố thường bị bó gốc trong ô đất nhỏ, rễ và bạnh vè bị cắt khi lát lại vỉa hè hoặc làm đường ống. Rễ bị hại một phía làm cây mất chỗ neo phía đó, dễ nghiêng đổ khi có gió bão. Giữ ô đất quanh gốc đủ rộng là biện pháp quan trọng.
Quả muỗm có ăn được không?
Quả muỗm chín ăn được, có mùi nồng và vị chua ngọt, thường được ăn tươi hoặc dầm. Nhựa ở vỏ cây và quả xanh có thể gây ngứa, rộp da với người nhạy cảm, nên cần cẩn thận khi hái và gọt quả, nhất là với trẻ em.