Núi đá vôi ở Việt Nam giữ một tỷ lệ rất cao các loài thực vật đặc hữu hẹp vì mỗi khối núi là một "hòn đảo trên cạn": nền đá giàu canxi, khô thoát nước, tách khỏi khối núi khác bởi thung lũng đất thường mà cây thích nghi với đá không vượt qua được. Qua thời gian dài, cách ly sinh ra loài riêng, nhiều loài chỉ có trên một khối núi. Lan hài, tuế, thu hải đường, các cây họ Tai voi và nhiều cây lá kim cổ là những nhóm tiêu biểu.
Cũng vì vậy, núi đá vôi là một trong những sinh cảnh bị đe doạ nặng nhất: khai thác đá làm xi măng, vôi, vật liệu xây dựng có thể xoá trọn một ngọn đồi, và cùng với nó là toàn bộ quần thể của một loài. Bài viết giải thích núi đá vôi khắc nghiệt ra sao với thực vật, những nhóm cây đặc trưng và vì sao bảo vệ cả khối núi quan trọng hơn bảo vệ từng cây.
Núi đá vôi ở Việt Nam nằm ở đâu
Đá vôi chiếm một diện tích đáng kể lãnh thổ Việt Nam, tập trung nhất ở vùng núi phía Bắc. Dải đá vôi Đông Bắc chạy qua Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang (gồm Hà Giang cũ) với cao nguyên đá Đồng Văn; dải Tây Bắc qua Sơn La, Phú Thọ (gồm Hòa Bình cũ), xuống tới vùng Ninh Bình với quần thể Tràng An, rồi ra biển thành vịnh Hạ Long và quần đảo Cát Bà.
Ở miền Trung, khối đá vôi lớn nhất là Phong Nha – Kẻ Bàng ở Quảng Trị (Quảng Bình cũ), nối sang hệ đá vôi Hin Namno bên Lào. Ở phía Nam, đá vôi xuất hiện thành những đồi nhỏ, rải rác ở vùng Hà Tiên – Kiên Lương nay thuộc An Giang, những ngọn đồi lẻ loi giữa đồng bằng mà giới sinh học coi là cực kỳ đặc biệt vì sự cô lập của chúng.
Nhiều khu vực đá vôi đã được công nhận ở tầm quốc tế: vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới từ năm 1994 và được mở rộng thêm quần đảo Cát Bà năm 2023, Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận năm 2003, Tràng An được công nhận là di sản hỗn hợp năm 2014. Tuy vậy, phần lớn diện tích núi đá vôi, nhất là những khối nhỏ, nằm ngoài các khu được bảo vệ.
Đá vôi khắc nghiệt với cây cối ra sao
Mưa nhiều mà vẫn khô. Đá vôi bị nước hoà tan tạo thành khe nứt, hang ngầm. Nước mưa thấm xuống rất nhanh, không đọng lại trên bề mặt. Một sườn núi đá vôi ở vùng mưa nhiều vẫn có thể khô như sa mạc vài ngày sau trận mưa, nhất là ở đỉnh và sườn nắng.
Đất mỏng, giàu canxi. Đất chỉ đọng lại thành túi nhỏ trong khe đá, hốc đá, rất giàu canxi và thường có độ kiềm cao. Nhiều loài cây ở đất thường không chịu được môi trường này, trong khi các loài thích nghi với đá vôi lại không cạnh tranh nổi ở đất thường.
Nhiệt độ dao động mạnh. Đá hấp thụ nhiệt ban ngày và toả ra ban đêm; bề mặt đá nắng có thể rất nóng vào trưa hè. Cây trên vách và đỉnh núi phải chịu biên độ nhiệt lớn hơn cây trong rừng đất.
Vi sinh cảnh khác nhau trên một ngọn núi. Chân núi ẩm, có đất bồi; sườn dốc khô; vách đứng gần như không có đất; khe hẹp và cửa hang mát, ẩm quanh năm; đỉnh núi lộng gió. Mỗi vi sinh cảnh có tổ hợp loài riêng, nên một ngọn núi nhỏ có thể chứa nhiều loài hơn hình dung.
Khó tái sinh sau tác động. Khi lớp thực vật trên đá bị phá, đất trong khe bị rửa trôi và rất lâu mới tích tụ lại. Một sườn đá vôi bị đốt hay phát trắng có thể cần hàng chục năm mới có lại thảm cây tương tự.
Hòn đảo trên cạn: cơ chế sinh ra loài đặc hữu hẹp
Thử hình dung một loài thu hải đường chỉ sống được trong khe ẩm trên vách đá vôi. Hạt của nó nhỏ, phát tán không xa; giữa khối núi này và khối núi bên cạnh là một thung lũng ruộng lúa, nương ngô, nơi không có khe đá vôi nào. Quần thể trên mỗi khối núi gần như không trao đổi gen với nhau. Qua hàng nghìn, hàng vạn thế hệ, mỗi quần thể tích luỹ khác biệt riêng và tách thành loài.
Cơ chế này giống hệt cách các đảo đại dương sinh ra loài đặc hữu, chỉ khác là "biển" ở đây là đất thường. Kết quả là núi đá vôi có tỷ lệ loài đặc hữu hẹp cao bất thường, nhất là ở những nhóm cây phát tán kém và có yêu cầu sinh cảnh khắt khe. Nhiều loài chỉ được biết từ một khối núi duy nhất, thậm chí từ một vài vách đá.
Một hệ quả ít người nghĩ tới là mỗi khối đá vôi chưa được khảo sát có thể đang giữ những loài chưa có tên. Các nhà thực vật học làm việc ở vùng đá vôi phía Bắc và Bắc Trường Sơn thường nói rằng gần như chuyến khảo sát nào tới một khối núi mới cũng mang về mẫu cần so sánh kỹ, và không ít trong số đó sau này được mô tả là loài mới.
Những nhóm thực vật đặc trưng của núi đá vôi Việt Nam
Bảng dưới gom các nhóm thường được nhắc khi nói về hệ thực vật đá vôi. Nhiều nhóm có loài sống ở cả đất thường, nhưng mức đa dạng và đặc hữu trên đá vôi nổi bật hơn hẳn.
| Nhóm cây | Ví dụ chi, loài | Vì sao hợp với đá vôi | Mức đặc hữu |
|---|---|---|---|
| Lan hài | Paphiopedilum | Sống trong khe đá có mùn, ưa ẩm không khí | Rất cao, nhiều loài chỉ có ở vài khối núi |
| Thu hải đường | Begonia | Thân mọng, sống ở khe ẩm, cửa hang | Rất cao, nhiều loài mới mô tả gần đây |
| Họ Tai voi (Gesneriaceae) | Primulina, Oreocharis, Petrocodon | Lá dày, sống bám vách đá ẩm, chịu khô theo mùa | Rất cao, nhóm có nhiều loài mới nhất |
| Tuế | Cycas | Rễ san hô cố định đạm, chịu đất nghèo | Cao, nhiều loài phân bố hẹp |
| Các loài Aspidistra | Aspidistra | Thân rễ bò trong khe đá dưới tán | Cao, hàng loạt loài mới từ Việt Nam |
| Cây lá kim đá vôi | Bách vàng, hoàng đàn, thông Pà Cò | Rễ bám sâu vào khe nứt, chịu khô | Nhiều loài tàn dư quý hiếm |
| Cây gỗ đá vôi | Nghiến, trai lý, đinh | Chịu được nền đá, mọc chậm, gỗ rất cứng | Một số loài đặc trưng cho vùng đá vôi Bắc Bộ |
Mô tả chi tiết từng loài lan hài, tuế, cây lá kim và cây gỗ đá vôi có ở các bài riêng trong trang. Ở đây chỉ nhấn mạnh rằng chúng chia sẻ cùng một kiểu sinh cảnh, nên mất một khối núi là mất nhiều nhóm cùng lúc.
Thu hải đường và họ Tai voi: những nhóm "đẻ" ra nhiều loài mới nhất
Nếu theo dõi các bài báo mô tả thực vật mới từ Việt Nam vài năm gần đây, có thể thấy hai nhóm xuất hiện đặc biệt thường xuyên: thu hải đường (Begonia) và họ Tai voi (Gesneriaceae). Cả hai đều có loài nhỏ, sống ở vi sinh cảnh rất hẹp như khe đá ẩm hay cửa hang, phát tán hạt kém, nên đặc hữu hẹp gần như là quy luật.
Thu hải đường đá vôi thường có thân mọng, lá lệch hai bên đặc trưng của chi, nhiều loài có lá vằn đốm đẹp. Cây họ Tai voi trên đá vôi thường có lá xếp hoa thị sát đá, dày và có lông, hoa hình ống hoặc chuông màu tím, trắng, vàng. Nhiều loài trong hai nhóm này chỉ được biết qua vài cá thể trên một vách đá khi được mô tả.
Chính vì nhỏ, đẹp và dễ trồng trong chậu, một số loài thu hải đường và họ Tai voi bắt đầu xuất hiện trên thị trường cây cảnh, giống con đường lan hài đã đi trước đó. Với những loài chỉ có vài trăm cá thể trên một khối núi, vài lần thu gom có thể đủ làm suy kiệt quần thể. Đây là lý do nhiều nhà nghiên cứu hiện không công bố vị trí chi tiết của các loài mới thuộc hai nhóm này.
Mối đe doạ lớn nhất: khai thác đá xoá cả ngọn núi
Đá vôi là nguyên liệu cho xi măng, vôi, đá xây dựng, và nhu cầu này lớn theo tốc độ xây dựng. Khác với chặt rừng còn để lại đất để phục hồi, khai thác đá có thể xoá hoàn toàn một ngọn đồi. Với loài đặc hữu chỉ có trên ngọn đồi đó, đây là tuyệt chủng không thể đảo ngược.
Các đồi đá vôi lẻ loi ở vùng Hà Tiên – Kiên Lương là ví dụ được giới sinh học quốc tế quan tâm từ lâu: những đồi nhỏ này có nhiều loài thực vật và động vật thân mềm đặc hữu, trong khi một phần đáng kể diện tích đá vôi ở đây đã hoặc đang được khai thác cho công nghiệp xi măng. Ở phía Bắc, nhiều khối đá vôi nhỏ gần đường giao thông cũng chịu áp lực tương tự.
Bên cạnh khai thác đá là đốt nương trên sườn núi đá vôi, chăn thả dê làm mất lớp cây non, khai thác chọn cây gỗ quý như nghiến, thu gom lan, tuế, thu hải đường làm cảnh, và phát triển du lịch hang động không có đánh giá tác động kỹ. Các tác động này cộng dồn trên một hệ sinh thái tái sinh rất chậm.
Bảo tồn núi đá vôi: bảo vệ cả khối núi, không chỉ từng cây
Với hệ thực vật đá vôi, đơn vị bảo tồn hợp lý là cả khối núi chứ không phải từng cây quý. Nếu chỉ khoanh vùng quanh một quần thể lan hài mà để sườn bên cạnh bị nổ mìn khai thác, vi khí hậu, nguồn nước ngầm và mạng nấm của cả khối núi vẫn bị phá. Vì thế, các nhà khoa học thường đề xuất đưa những khối đá vôi có giá trị đặc hữu cao vào hệ thống rừng đặc dụng, hoặc ít nhất loại khỏi quy hoạch khai thác khoáng sản.
Một công cụ quan trọng là đánh giá tác động môi trường trước khi cấp phép khai thác đá, trong đó có khảo sát thực vật đủ kỹ để phát hiện loài đặc hữu hẹp. Khó khăn là nhiều loài chưa có tên, nên không xuất hiện trong bất kỳ danh mục nào; một khảo sát chỉ đối chiếu với danh sách loài đã biết dễ kết luận rằng khu vực "không có loài quý".
Ở cấp cộng đồng, những bản làng sống quanh núi đá vôi có vai trò không thay thế được. Nơi người dân coi núi đá là rừng thiêng của bản, nguồn nước của làng hay nơi có giá trị cảnh quan cho du lịch cộng đồng, núi thường được giữ tốt hơn. Kết hợp hiểu biết địa phương với khảo sát khoa học là cách hiệu quả để xác định khối núi nào cần ưu tiên bảo vệ.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao núi đá vôi khô dù ở vùng mưa nhiều?
Vì đá vôi bị nước hoà tan tạo thành mạng khe nứt và hang ngầm, nước mưa thấm xuống rất nhanh thay vì đọng trên bề mặt. Lớp đất lại mỏng, giữ nước kém. Kết quả là cây trên đá vôi phải chịu khô hạn theo đợt ngay cả trong mùa mưa.
Có phải mọi loài cây trên núi đá vôi đều là đặc hữu?
Không. Nhiều loài trên núi đá vôi phân bố rộng, có cả ở đất thường. Điều đặc biệt là tỷ lệ loài đặc hữu hẹp trên đá vôi cao hơn hẳn so với nhiều sinh cảnh khác, nhất là ở các nhóm như lan hài, thu hải đường, họ Tai voi.
Khai thác đá vôi có thể phục hồi lại cho cây mọc không?
Có thể trồng lại cây trên mỏ đá đã đóng cửa, nhưng không thể phục hồi một ngọn núi đã bị xoá hay các loài đặc hữu đã mất. Hệ thực vật trên đá vôi hình thành qua thời gian rất dài, gắn với từng khe đá, vách đá cụ thể.
Thu hải đường trên núi đá vôi có phải cây cảnh thu hải đường trồng trong chậu không?
Cùng chi Begonia nhưng phần lớn là loài khác. Thu hải đường cảnh bán phổ biến thường là giống lai hoặc loài nhập nội. Các loài thu hải đường hoang dã trên đá vôi Việt Nam có nhiều loài đặc hữu hẹp, không nên lấy từ tự nhiên về trồng.
Núi đá vôi có hang động du lịch thì có ảnh hưởng tới cây không?
Có thể có, tuỳ cách làm. Mở đường, xây bậc, chiếu đèn, lượng khách đông làm thay đổi vi khí hậu ở cửa hang và vách đá, nơi nhiều loài thu hải đường, họ Tai voi sinh sống. Du lịch có đánh giá tác động và khảo sát thực vật trước giúp giảm rủi ro này.