Xác định loài cây đi theo bốn cấp chắc chắn tăng dần: ảnh chụp và ứng dụng nhận dạng cho gợi ý nhanh nhưng hay sai với cây hiếm; chuyên gia xem ảnh đủ bộ phận có thể định tới chi hoặc loài; mẫu tiêu bản có hoa quả, đối chiếu với mẫu chuẩn ở phòng tiêu bản, là căn cứ của khoa học thực vật; còn với gỗ, củ, mảnh vụn đã mất hình thái, chỉ giám định giải phẫu, hoá học hoặc ADN ở phòng thí nghiệm mới trả lời được.
Mọi bài nhận biết trên trang đều kết thúc bằng câu "muốn chắc phải giám định ở cơ quan chuyên môn". Bài này giải thích câu đó nghĩa là gì trong thực tế: mỗi cấp làm được gì, cần chuẩn bị gì, kết quả đọc ra sao, và vì sao ngay cả phòng thí nghiệm cũng có lúc chỉ trả lời được tới chi.
Cấp một: ứng dụng nhận dạng qua ảnh
Các ứng dụng nhận dạng thực vật bằng ảnh trên điện thoại hoạt động bằng cách so ảnh của bạn với kho ảnh đã được gắn tên, thường dùng mô hình học máy. Chúng khá tốt với cây phổ biến, cây trồng làm cảnh, cây ven đường ở vùng có nhiều người dùng đóng góp ảnh. Một số nền tảng khoa học công dân còn có cộng đồng người am hiểu xem lại và xác nhận tên.
Điểm yếu nằm đúng ở cây quý hiếm. Loài càng hiếm, kho ảnh tham chiếu càng ít, nhiều loài đặc hữu Việt Nam gần như không có ảnh trong các kho này. Ứng dụng khi đó thường trả về loài phổ biến gần giống nhất, đôi khi một loài ở châu lục khác, với độ tin cậy hiển thị nghe rất thuyết phục. Ảnh chỉ có lá cũng làm kết quả kém đi, vì như các bài trước đã nói, lá là bộ phận biến đổi nhiều nhất.
Một chi tiết đáng biết: một số nền tảng khoa học công dân tự động làm mờ toạ độ khi người dùng đăng ảnh loài bị đe doạ, để tránh lộ vị trí. Nếu nền tảng bạn dùng không có tính năng này, hãy tự tắt vị trí trước khi đăng ảnh cây quý hiếm. Ảnh chụp bằng điện thoại thường lưu toạ độ trong dữ liệu ảnh, nên ngay cả khi gửi riêng cho người quen, hãy kiểm tra cài đặt này; ảnh được chuyển tiếp nhiều lần có thể đi xa hơn dự tính.
Chụp ảnh sao cho chuyên gia định loài được
Người định loài qua ảnh cần thấy các dấu hiệu cấu trúc chứ không cần ảnh đẹp. Một bộ ảnh tốt thường gồm:
- Toàn cây và nơi mọc: cho thấy dáng cây, sinh cảnh (rừng, núi đá, ven suối, vườn nhà).
- Thân và vỏ ở ngang ngực, kèm bàn tay hoặc thước làm tỷ lệ.
- Một đoạn cành có nhiều lá, chụp vuông góc để thấy cách mọc và lá đơn hay kép.
- Mặt trên và mặt dưới lá cận cảnh; chỗ cuống lá đính vào cành để thấy lá kèm, chồi nách.
- Hoa chính diện và nghiêng; nếu có thể, một hoa đã rụng được bổ dọc.
- Quả non, quả chín, hạt; với cây lá kim là nón và mặt dưới cành lá.
- Nhựa, mủ ở vết thương sẵn có, nếu có.
- Ghi chú kèm ảnh: ngày, vị trí chung, độ cao ước lượng, chiều cao cây, mùi lá vò, màu hoa thật.
Chụp bằng ánh sáng tự nhiên, tránh đèn flash làm sai màu, và tránh nền lẫn lộn nhiều lá cây khác. Với cây quý hiếm, không bẻ cành để chụp cho tiện; nếu cây quá cao, ghi rõ là ảnh chụp từ xa.
Cấp hai và ba: chuyên gia, mẫu tiêu bản và mẫu chuẩn
Người định loài có kinh nghiệm nhìn bộ ảnh đủ bộ phận thường xác định được chi, nhiều trường hợp tới loài. Nhưng trong khoa học, căn cứ cuối cùng của một tên loài là mẫu tiêu bản: cành có lá, hoa hoặc quả được ép khô, gắn lên giấy, ghi nhãn đầy đủ nơi thu, ngày thu, người thu, rồi lưu trong phòng tiêu bản. Mẫu này có thể được bất kỳ nhà khoa học nào xem lại sau hàng chục năm.
Mỗi tên loài gắn với một mẫu chuẩn (holotype) được chỉ định khi công bố. Khi có nghi vấn, người định loài so mẫu mới với mẫu chuẩn hoặc ảnh chụp chất lượng cao của nó. Ở Việt Nam, các phòng tiêu bản lớn thuộc các viện nghiên cứu sinh thái và tài nguyên sinh vật, các bảo tàng thiên nhiên, viện khoa học lâm nghiệp và các trường đại học có ngành sinh học, lâm nghiệp.
Thu mẫu tiêu bản là việc của các đoàn khảo sát có giấy phép, nhất là trong rừng đặc dụng và với loài được bảo vệ. Người phát hiện một cây đáng chú ý nên chụp ảnh đủ bộ và báo cho cơ quan quản lý hoặc nhà khoa học, để họ quyết định có cần thu mẫu hay không.
Cấp bốn: phòng thí nghiệm, phương pháp nào trả lời câu hỏi nào
Khi mẫu đã mất hình thái, như gỗ xẻ, đồ gỗ, củ dược liệu, bột, mảnh vụn, giám định chuyển sang các phương pháp phòng thí nghiệm. Mỗi phương pháp mạnh ở một chỗ.
| Phương pháp | Làm gì | Trả lời tốt | Hạn chế |
|---|---|---|---|
| Giải phẫu gỗ (kính lúp, kính hiển vi) | Đọc cấu tạo tế bào trên mặt cắt và lát mỏng | Họ, chi, nhiều trường hợp tới loài | Khó tách loài cùng chi; gỗ mục, cháy khó đọc |
| Vi phẫu dược liệu | Soi cấu tạo mô củ, rễ, lá | Phát hiện mẫu không đúng họ, chi | Khó tách loài gần nhau |
| Phân tích hoá học (sắc ký, phổ khối) | Lập "dấu vân tay" chất chiết, hoạt chất | Tách loài có hồ sơ hoá học khác biệt, phát hiện pha trộn | Cần mẫu chuẩn; xử lý hoá chất làm sai lệch |
| ADN mã vạch và chỉ thị phân tử | Đọc trình tự gen chuẩn, so với cơ sở dữ liệu | Xác định loài khi có dữ liệu tham chiếu tốt | Gỗ khô lâu năm khó tách ADN; thiếu dữ liệu loài hiếm |
| Đồng vị bền, hoá học nguyên tố | Đo tỷ lệ đồng vị, nguyên tố vết | Gợi ý vùng nguồn gốc địa lý | Cần bản đồ tham chiếu; đang phát triển |
Giám định nghiêm túc thường kết hợp nhiều phương pháp. Kết luận ghi rõ mức xác định, ví dụ "thuộc chi Dalbergia" hay "phù hợp với loài X", và phương pháp đã dùng. Đọc kỹ phần này để không hiểu kết luận rộng hơn những gì nó khẳng định.
Giám định ở đâu và chuẩn bị thế nào
Tuỳ câu hỏi mà nơi giám định khác nhau. Câu hỏi về loài cây sống, mẫu tiêu bản thường do các viện nghiên cứu thực vật, viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, bảo tàng thiên nhiên, trường đại học trả lời. Câu hỏi về gỗ thường do các viện, trường có chuyên ngành khoa học gỗ, lâm nghiệp. Câu hỏi về dược liệu thường do các viện, trung tâm kiểm nghiệm dược liệu. Với hàng hoá thuộc phạm vi CITES, cơ quan quản lý CITES Việt Nam và cơ quan khoa học CITES có vai trò riêng.
Khi vụ việc liên quan đến xử lý vi phạm hay tranh chấp, giám định thường do cơ quan có thẩm quyền trưng cầu theo quy định tố tụng, và kết luận của tổ chức được trưng cầu mới có giá trị pháp lý. Thông tin này là nguyên lý chung, không phải tư vấn pháp lý; thủ tục cụ thể cần hỏi trực tiếp cơ quan giám định và tra văn bản hiện hành.
Về chuẩn bị, nên liên hệ trước để hỏi loại mẫu, kích thước, cách lấy mẫu (với gỗ là gỗ lõi, có mặt cắt ngang; với cây là cành có lá, hoa hoặc quả), cách bảo quản, và chi phí, thời gian. Ghi lại nguồn gốc mẫu, chụp ảnh trước khi lấy, niêm phong và giữ một phần đối chứng nếu có thể.
Những sai lầm hay gặp khi nhờ định loài
Gửi một tấm ảnh lá duy nhất. Ảnh lá đơn lẻ, nhất là lá cây non, hiếm khi đủ để định loài cây gỗ. Người được hỏi chỉ có thể đoán, và câu trả lời đoán thường bị chuyển tiếp như một kết luận.
Hỏi kèm sẵn đáp án mong muốn. Câu hỏi kiểu "đây có phải sưa đỏ không" khiến cả người trả lời lẫn ứng dụng dễ bị dẫn dắt. Nên hỏi "đây là cây gì" và để người định loài tự đi từ dấu hiệu.
Bỏ qua bối cảnh. Không nói cây mọc tự nhiên hay được trồng, ở vùng nào, độ cao bao nhiêu. Nhiều loài chỉ tách được nhờ vùng phân bố; thiếu bối cảnh là tự bỏ đi một dấu hiệu mạnh.
Lấy mẫu sai phần. Với gỗ, lấy phần giác thay vì lõi, lấy mẫu đã sơn phủ dày; với dược liệu, gửi mẫu đã xay thành bột lẫn nhiều thứ. Mẫu sai phần làm phòng thí nghiệm mất công mà kết quả vẫn kém tin cậy.
Hiểu kết luận rộng hơn thực tế. Kết luận "thuộc chi Dalbergia" bị kể lại thành "là gỗ trắc". Đọc đúng mức xác định ghi trong kết luận là phần việc của người nhận kết quả.
Biết giới hạn là một phần của nhận biết
Có những câu hỏi mà ngay cả phòng thí nghiệm tốt nhất cũng chưa trả lời chắc chắn: tách hai loài rất gần nhau khi chưa có đủ dữ liệu tham chiếu, xác định tuổi một củ sâm, khẳng định một khúc gỗ mọc ở tỉnh nào. Kết luận trung thực trong những trường hợp đó là "chưa xác định được", và đó vẫn là thông tin có giá trị.
Giới hạn cũng thay đổi theo thời gian. Mười, hai mươi năm trước, tách các loài Dalbergia bằng hoá học hay ADN còn là việc của vài phòng thí nghiệm trên thế giới; nay các phương pháp ấy phổ biến hơn, cơ sở dữ liệu tham chiếu dày hơn. Nhiều câu hỏi hôm nay chưa trả lời được có thể trả lời được khi có thêm mẫu chuẩn. Đó là lý do việc lưu mẫu, lưu hồ sơ, ghi chép cẩn thận luôn có giá trị, kể cả khi kết luận lúc này còn để ngỏ.
Với người đọc phổ thông, giá trị của toàn bộ chuỗi bài nhận biết trên trang không nằm ở việc tự mình kết luận tên loài, mà ở việc biết đặt câu hỏi đúng, quan sát đúng chỗ, ghi chép đủ để người khác kiểm tra, và nhận ra khi một lời khẳng định vượt quá bằng chứng. Khi tên loài quyết định giá trị lớn, nghĩa vụ pháp lý hay số phận của một cây quý, muốn chắc phải giám định ở cơ quan chuyên môn.
Câu hỏi thường gặp
Ứng dụng nhận dạng cây nói đúng tên loài quý hiếm thì có tin được không?
Nên coi là gợi ý cần kiểm tra. Với loài hiếm, kho ảnh tham chiếu ít nên ứng dụng dễ trả về loài gần giống. Gửi bộ ảnh đủ bộ phận cho người có chuyên môn hoặc cộng đồng khoa học công dân có người xác nhận để kiểm tra lại.
Mẫu tiêu bản thực vật khác ảnh chụp ở điểm nào?
Mẫu tiêu bản giữ lại vật thật: có thể bổ hoa, đo đếm, soi lông, lấy ADN, và được lưu lâu dài để người khác kiểm tra lại. Ảnh chỉ giữ những gì người chụp đã chọn, thiếu chi tiết là không bổ sung được. Vì vậy mẫu tiêu bản là căn cứ khoa học, ảnh là căn cứ phụ.
Gỗ đã thành đồ nội thất có giám định được loài không?
Thường được ở mức chi, nhiều trường hợp tới loài, bằng giải phẫu gỗ lấy từ một mẫu nhỏ ở chỗ khuất. Lớp sơn phủ, keo, xử lý hoá chất có thể làm phân tích hoá học và ADN khó hơn. Nên hỏi cơ quan giám định trước về cách lấy mẫu.
ADN có xác định được gỗ mọc ở nước nào không?
ADN xác định loài tốt hơn là xác định nguồn gốc. Để biết vùng địa lý, các nghiên cứu dùng chỉ thị di truyền quần thể hoặc đồng vị bền, cần dữ liệu tham chiếu từ nhiều vùng. Phương pháp này đang phát triển và chưa áp dụng được cho mọi loài.
Phát hiện một cây nghi là loài quý hiếm thì báo cho ai?
Báo cho kiểm lâm địa phương, ban quản lý khu rừng hoặc khu bảo tồn gần nhất, hoặc các viện nghiên cứu thực vật. Kèm bộ ảnh đủ bộ phận và vị trí chung; toạ độ chi tiết chỉ gửi riêng cho cơ quan, không đăng công khai.
Kết luận giám định ghi "phù hợp với" nghĩa là gì?
Nghĩa là các đặc điểm quan sát được khớp với loài đó, nhưng phương pháp không loại trừ hoàn toàn các loài gần. Đây là cách diễn đạt thận trọng thường gặp khi tách loài cùng chi. Cần đọc kèm phần phương pháp để hiểu mức độ chắc chắn.