Chăm sóc cây cổ thụ hiệu quả nhất là chữa ở rễ trước, rồi mới đến thân và tán. Việc ưu tiên là gỡ bỏ lớp lát kín, đất đắp quanh gốc, xới tơi và phủ một lớp mùn hữu cơ để rễ thở lại; tưới bổ sung khi khô hạn. Sau đó mới đến đánh giá rủi ro, tỉa giảm tải những cành nguy hiểm, chống đỡ hoặc giằng cáp khi cần. Với hốc mục, cách làm hiện đại là để thoáng và theo dõi, không trám xi măng, không quét sơn dày lên vết cắt.
Các biện pháp dưới đây là nguyên lý chung của nghề chăm sóc cây, giúp làng, chùa, nhà trường biết điều gì nên làm, điều gì nên tránh và khi nào phải mời người có chuyên môn. Với cây lớn, cây ở nơi đông người hay cây đã được công nhận Cây Di sản, việc trèo cây, cắt cành lớn, lắp cáp phải do đội ngũ có kỹ thuật và thiết bị an toàn thực hiện.
Trình tự hợp lý khi một cây cổ thụ có dấu hiệu suy yếu
Cứu cây là một quá trình nhiều năm, không phải một lần "phẫu thuật". Trình tự dưới giúp tránh làm những việc tốn kém mà không trúng nguyên nhân.
- Quan sát và ghi chép. Chụp ảnh toàn cây, tán, thân, gốc từ các hướng cố định; ghi lại những thay đổi gần đây quanh gốc như lát sân, làm đường, nâng nền.
- Mời đánh giá chuyên môn. Đơn vị cây xanh, viện nghiên cứu lâm nghiệp, trường đại học lâm nghiệp, nông nghiệp hoặc chuyên gia chăm sóc cây đến xem gốc, thân, tán, đánh giá mức độ mục và nguy cơ.
- Xử lý nguyên nhân ở rễ. Gỡ lớp phủ kín, hạ lớp đất đắp, giảm nén đất, cải tạo vùng rễ.
- Xử lý rủi ro trước mắt. Cắt bỏ cành khô lớn treo trên lối đi, giảm tải phần tán quá nặng, giằng hoặc chống những phần có nguy cơ gãy.
- Chăm sóc duy trì. Tưới khi khô hạn, bổ sung mùn, kiểm soát sâu hại bằng biện pháp ít độc, theo dõi hằng năm.
- Đánh giá lại. Sau một đến hai năm, so sánh ảnh, độ dày tán, lượng chồi mới để biết cây có phản hồi không.
Điều đáng nói là nhiều cây được "cứu" bằng những việc rất đơn giản ở bước ba, như tháo bỏ bồn xây và lớp gạch quanh gốc. Trong khi đó, những can thiệp tốn kém trên thân và tán mà bỏ qua rễ thường không cứu được cây.
Giải phóng và cải tạo vùng rễ
Gỡ lớp lát kín quanh gốc là việc đầu tiên. Không nhất thiết phải bỏ toàn bộ sân, nhưng càng mở rộng được vùng đất trống quanh gốc càng tốt, lý tưởng là đến mép tán. Phần còn phải đi lại có thể thay bằng vật liệu thấm nước, gạch lát có khe hở, hoặc lối đi nâng trên khung để không nén đất. Khi gỡ, làm thủ công cẩn thận, tránh dùng máy đào xới vào lớp rễ ngay dưới.
Với đất đắp nâng nền, cách làm là hạ dần lớp đất thừa bằng tay hoặc bằng thiết bị thổi khí áp lực cao chuyên dùng, đưa cổ rễ trở lại gần mặt đất ban đầu. Ở nhiều nước, người chăm sóc cây dùng thiết bị thổi khí để làm tơi đất quanh rễ mà không làm đứt rễ, rồi trộn thêm chất hữu cơ. Tại Việt Nam, việc này cần đơn vị có kinh nghiệm, nhưng nguyên lý thì làng nào cũng hiểu được: đất phải tơi, có không khí.
Lớp phủ mùn hữu cơ, như lá mục, vỏ cây băm, rơm rạ ủ hoai, rải dày vừa phải trên vùng rễ, giữ ẩm, điều hoà nhiệt độ đất và nuôi hệ vi sinh vật có lợi. Lớp phủ không được đắp sát vào thân, để chừa phần cổ rễ khô thoáng. Lá rụng của chính cây, nếu không có sâu bệnh, là lớp phủ tốt nhất; thói quen quét sạch lá dưới gốc mỗi sáng thực ra lấy đi nguồn mùn tự nhiên của cây.
Tưới bổ sung trong mùa khô kéo dài giúp cây vừa bị tổn thương rễ vượt qua giai đoạn khó. Tưới chậm, thấm sâu trên toàn vùng rễ hiệu quả hơn tưới nhiều lần một ít ngay sát gốc. Phân bón chỉ nên dùng khi có đánh giá đất cụ thể; bón nhiều phân hoá học cho cây già đang yếu không làm cây khoẻ hơn mà có thể làm rễ tổn thương thêm.
Đánh giá rủi ro: nhìn bằng mắt và bằng thiết bị
Đánh giá rủi ro cây là một kỹ năng có quy trình. Người đánh giá xem cây có khuyết tật gì, như hốc mục, vết nứt, cành tựa yếu, rễ bị cắt, rồi xem nếu phần đó gãy thì rơi vào đâu, có người, nhà, đường dây điện không. Rủi ro không chỉ nằm ở cây mà ở quan hệ giữa cây và những gì xung quanh. Một cành khô lớn trên lối vào trường học cần xử lý ngay; cùng cành ấy ở góc vườn ít người lui tới có thể để lại cho chim làm tổ.
Ngoài quan sát, có những thiết bị giúp nhìn vào trong thân mà không phải đốn. Máy chụp cắt lớp âm học đo thời gian sóng âm truyền qua thân từ nhiều điểm, dựng lại bản đồ vùng gỗ đặc và vùng mục. Máy đo điện trở khoan một mũi kim rất mảnh, ghi lực cản dọc đường kim đi, cho biết đoạn nào gỗ chắc, đoạn nào rỗng. Những thiết bị này đã được dùng ở một số đô thị lớn tại Việt Nam để kiểm tra cây xanh, nhưng chưa phổ biến ở cấp làng xã.
Kết quả đánh giá giúp tránh hai sai lầm ngược nhau: để mặc một cây thật sự nguy hiểm cho đến khi gây tai nạn, và chặt bỏ một cây cổ thụ còn đủ chắc chỉ vì thấy thân rỗng. Với cây di sản, mọi quyết định chặt hạ nên dựa trên đánh giá có văn bản của người có chuyên môn, không dựa vào cảm giác.
Tỉa, giằng, chống: dùng đúng việc
Tỉa giảm tải thay vì cắt cụt. Mục tiêu là giảm trọng lượng và sức cản gió ở những cành có nguy cơ, bằng cách cắt ngắn hợp lý về một cành phụ hướng ra ngoài, giữ hình dáng tự nhiên. Cắt cụt cả tán làm cây mất lá, chồi mới mọc dày và bám yếu, sau vài năm còn nguy hiểm hơn.
Cắt đúng chỗ. Vết cắt nằm ngay ngoài phần cổ cành, chỗ phình nhẹ nơi cành nối với thân. Không cắt sát vào thân, không để lại cuống dài. Cành lớn cắt làm nhiều nhát để không xé vỏ.
Giằng cáp mềm. Với những thân, cành lớn tách đôi hình chữ V có nguy cơ nứt, người ta lắp cáp hoặc dây giằng ở trên cao, nối các nhánh với nhau, cho phép cây vẫn đung đưa trong gió nhưng hạn chế tách rời. Hệ giằng cần kiểm tra định kỳ.
Chống đỡ. Cành ngang rất dài, nặng, ở cây như đa, si có thể được chống bằng cột. Cột chống nên có đế rộng, không đổ bê tông lên vùng rễ, có đệm giữa cột và cành để không làm loét vỏ. Ở cây đa, có thể dẫn rễ phụ xuống đất làm cột chống sống, một kỹ thuật người làm vườn châu Á đã biết từ lâu.
Chống sét. Cây cổ thụ ở nơi trống, đông người có thể cần hệ thống chống sét riêng. Việc thiết kế và lắp đặt phải do đơn vị kỹ thuật điện có chuyên môn thực hiện.
Hốc mục và vết thương: bỏ thói quen trám xi măng
Trong nhiều thập kỷ, cách xử lý hốc cây phổ biến trên thế giới là nạo sạch gỗ mục rồi trám kín bằng xi măng, gạch, nhựa. Ở Việt Nam cũng gặp nhiều gốc cây cổ thụ với những mảng bê tông lớn trong thân. Nghiên cứu của Alex Shigo và các đồng nghiệp từ những năm 1970 đã cho thấy cách làm này có hại: nạo gỗ mục phá luôn các vùng ngăn cách mà cây đã tạo ra để chặn nấm, còn khối trám cứng giữ ẩm bên trong, cọ xát vào mô sống khi thân đung đưa, làm mục lan rộng hơn.
Cách làm được khuyến nghị ngày nay là để hốc thoáng, không nạo vào gỗ còn tốt, có thể che miệng hốc để nước mưa không đọng nếu hốc hướng lên trời, và theo dõi độ dày phần gỗ khoẻ bao quanh. Với những cây đã trám từ trước, việc tháo khối trám cần đánh giá cẩn thận, vì có trường hợp khối trám đã gắn liền với cấu trúc thân, tháo ra còn hại hơn.
Với vết cắt, vết thương mới, các tổ chức chăm sóc cây hiện nay nói chung không khuyến khích quét sơn, nhựa đường hay chất phủ dày lên bề mặt, vì lớp phủ không ngăn được nấm mà còn giữ ẩm bên dưới. Điều quan trọng hơn là vết cắt đúng chỗ, mép gọn, để cây tự hình thành mô sẹo khép dần từ mép vào. Một số trường hợp đặc biệt, như phòng một loại bệnh lây qua vết thương, có hướng dẫn riêng của chuyên gia.
Những việc thiện ý nhưng hại cây
Phần lớn các việc dưới đây xuất phát từ mong muốn giữ cây, nhưng đi ngược sinh học của cây cổ thụ. Nếu đang làm, nên dừng và hỏi ý kiến chuyên môn.
- Xây bồn cao, đổ đất vào để "giữ gốc" — vùi cổ rễ, cắt rễ ngoài bồn.
- Đóng đinh treo biển, treo đèn, buộc dây thép quanh thân — dây thép siết vào thân khi cây lớn, đinh tạo vết thương.
- Đổ dầu nhớt, thuốc trừ sâu tự pha quanh gốc để trị mối — ô nhiễm đất, giết rễ và vi sinh vật có ích.
- Quét vôi trắng dày lên thân để "chống sâu" — không có tác dụng đáng kể với cây cổ thụ, che mất dấu hiệu bệnh cần quan sát.
- Đốt rác, đốt lá, đốt vàng mã sát gốc — nhiệt làm chết lớp mô sống dưới vỏ, khói và tro làm hại lá thấp.
- Bón thật nhiều phân hoá học khi thấy cây yếu — rễ đang tổn thương không hấp thu được, muối phân làm rễ cháy thêm.
- Cắt trụi tán sau bão cho "an toàn" — cây mất nguồn năng lượng đúng lúc cần hồi phục.
Khi cây là Cây Di sản hoặc ở trong khu di tích, mọi can thiệp lớn nên được bàn với đơn vị quản lý di tích và người có chuyên môn, có biên bản, để sau này người kế nhiệm biết cây đã được xử lý những gì.
Sổ theo dõi cây: mẫu đơn giản cho làng, chùa, trường
Không cần phần mềm hay thiết bị đắt tiền, một cuốn sổ hoặc một thư mục ảnh được giữ đều đặn đã đủ giúp người kế nhiệm biết cây đã trải qua những gì. Mỗi lần ghi nên có:
- Ngày ghi, người ghi, thời tiết gần đây (hạn, mưa lớn, bão).
- Ảnh toàn cây chụp từ cùng một vị trí cố định mỗi năm, ảnh gốc và ảnh những chỗ có vấn đề.
- Tình trạng tán: dày hay thưa, có cành khô không, ra lá, ra hoa, ra quả có bình thường không.
- Tình trạng thân và gốc: vết nứt, hốc, nấm, đường mối, nhựa chảy.
- Những thay đổi xung quanh: công trình, lát sân, đào rãnh, lễ hội đông người.
- Việc đã làm cho cây: tỉa cành nào, ai làm, có đánh giá chuyên môn không, kết luận ra sao.
Sau năm, mười năm, cuốn sổ này có giá trị hơn nhiều so với một lần khám cây đơn lẻ, vì nó cho thấy xu hướng, điều mà không phép đo một lần nào thay được.
Câu hỏi thường gặp
Cây cổ thụ suy yếu thì việc đầu tiên nên làm là gì?
Việc đầu tiên là xem vùng gốc có bị lát kín, đắp đất, nén chặt hay đào cắt rễ không, đồng thời chụp ảnh ghi lại tình trạng và mời người có chuyên môn đánh giá. Phần lớn cây cổ thụ suy yếu bắt nguồn từ rễ, nên chữa ở rễ thường hiệu quả hơn mọi can thiệp trên thân và tán.
Có nên trám xi măng vào hốc thân cây cổ thụ không?
Không nên. Nghiên cứu về cơ chế tự vệ của cây cho thấy nạo gỗ mục và trám cứng phá vỡ các vùng ngăn nấm mà cây đã tạo, đồng thời giữ ẩm bên trong làm mục lan rộng. Cách hiện đại là để hốc thoáng, che miệng hốc nếu đọng nước và theo dõi độ dày gỗ khoẻ còn lại.
Sau khi cắt cành lớn có cần quét sơn lên vết cắt không?
Nhìn chung không cần. Lớp sơn hay nhựa đường không ngăn được nấm mà còn giữ ẩm dưới lớp phủ. Điều quan trọng là cắt đúng chỗ ngay ngoài phần cổ cành, mép vết cắt gọn, để cây tự hình thành mô sẹo khép dần vết thương.
Ai có thể đánh giá sức khoẻ cây cổ thụ ở làng?
Có thể liên hệ đơn vị quản lý cây xanh của địa phương, các viện nghiên cứu lâm nghiệp, trường đại học có ngành lâm nghiệp hoặc nông nghiệp, hoặc hội bảo vệ thiên nhiên cấp tỉnh để được giới thiệu chuyên gia. Với cây đã công nhận Cây Di sản, có thể hỏi thêm Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam.
Phủ mùn quanh gốc cây cổ thụ thế nào cho đúng?
Rải lớp lá mục, vỏ cây băm hoặc rơm rạ ủ hoai dày vừa phải trên vùng rễ, càng rộng ra phía mép tán càng tốt. Không đắp mùn sát vào thân, chừa phần cổ rễ khô thoáng. Lá rụng của chính cây, nếu không có sâu bệnh, nên được giữ lại làm lớp phủ tự nhiên.
Khi nào thì cây cổ thụ phải chặt bỏ?
Chỉ khi đánh giá chuyên môn cho thấy rủi ro gãy đổ cao không thể giảm bằng tỉa, giằng, chống, và cây đứng ở nơi có người, công trình bị đe doạ. Với cây di sản, cây trong khu di tích hoặc cây xanh đô thị thuộc diện quản lý, việc chặt hạ còn phải theo thủ tục của cơ quan có thẩm quyền.