Tuổi một cây cổ thụ đang sống hầu như không bao giờ đo được chính xác, chỉ ước tính được. Có bốn nhóm phương pháp: đếm vòng năm trên mẫu khoan lấy từ thân, quy đổi từ chu vi theo tốc độ lớn của loài, định tuổi bằng đồng vị cacbon phóng xạ, và đối chiếu tư liệu lịch sử. Ở vùng nhiệt đới như Việt Nam, nhiều loài không có vòng năm rõ, cây cổ thụ lại hay rỗng ruột, nên con số đáng tin nhất thường là một khoảng, kèm lời giải thích dựa vào căn cứ nào.
Khi đọc "cây nghìn năm tuổi" trên một tấm biển, nên hiểu đó là ước tính. Bài này giải thích từng phương pháp hoạt động thế nào, mạnh ở đâu, yếu ở đâu, để người giữ cây và người đọc tin tức biết cách đặt câu hỏi đúng với một con số tuổi.
Vòng năm hình thành thế nào và vì sao cây nhiệt đới khó đếm
Thân cây gỗ lớn lên nhờ tầng phát sinh mỏng nằm ngay dưới vỏ. Mỗi mùa sinh trưởng, tầng này tạo ra lớp gỗ mới bọc ngoài lớp cũ. Ở vùng ôn đới có mùa đông rõ, gỗ mọc đầu mùa xuân có tế bào to, vách mỏng, màu nhạt; gỗ mọc cuối mùa hè có tế bào nhỏ, vách dày, màu sẫm. Ranh giới giữa gỗ sẫm năm trước và gỗ nhạt năm sau tạo thành vòng năm, đếm được bằng mắt hoặc kính lúp.
Ngành nghiên cứu vòng năm, gọi là niên đại học cây (dendrochronology), được nhà thiên văn người Mỹ Andrew Ellicott Douglass phát triển từ đầu thế kỷ 20. Người ta không chỉ đếm mà còn so khớp chuỗi vòng rộng, vòng hẹp giữa nhiều cây, nhờ đó định niên đại cả gỗ trong công trình cổ.
Ở vùng nhiệt đới, câu chuyện khó hơn nhiều. Không có mùa đông lạnh, nhiều loài lớn gần như quanh năm, vòng năm mờ hoặc không có. Một số loài có mùa khô rõ thì tạo vòng, nhưng có năm tạo hai vòng giả, có năm hạn quá không tạo vòng. Các nghiên cứu vòng năm nhiệt đới đã có tiến bộ, với những loài như thông, pơ mu, một số loài họ Dầu, họ Xoan ở vùng có mùa khô, nhưng không thể áp một cách máy móc cho mọi cây. Đây là lý do đầu tiên khiến tuổi cây cổ thụ ở Việt Nam thường chỉ là ước tính.
Khoan lõi: lấy vòng năm mà không đốn cây
Dụng cụ chính là khoan tăng trưởng, còn gọi là khoan Pressler: một ống thép rỗng, đường kính chỉ vài milimét, vặn vào thân theo hướng vào tâm. Khi rút ra, trong ống là một que gỗ mảnh chứa các vòng từ vỏ vào gần tâm. Mẫu được dán lên giá, mài nhẵn, đếm vòng dưới kính hiển vi soi nổi.
Với cây khoẻ, một lỗ khoan nhỏ thường được cây tự bao bọc, nhưng đây không phải thao tác vô hại tuyệt đối. Lỗ khoan có thể là đường cho nấm, vi khuẩn vào gỗ, nhất là ở cây đã yếu. Vì vậy với cây di sản, việc khoan cần người có chuyên môn, dụng cụ sạch, chọn vị trí hợp lý và cân nhắc kỹ lợi ích. Không nên để ai đó "khoan thử cho biết".
Giới hạn lớn nhất của khoan lõi với cây cổ thụ là thân rỗng. Một cây đa, một cây lim đã mục lõi thì phần vòng năm già nhất đã mất, mũi khoan chỉ lấy được phần ngoài. Người ta khi đó đếm vòng phần còn lại rồi ngoại suy phần đã mất dựa vào độ rộng trung bình của vòng, sai số có thể rất lớn. Thêm một giới hạn nữa: mũi khoan dài nhất cũng có hạn, không chạm tới tâm của những thân có đường kính vài mét.
Bốn nhóm phương pháp đặt cạnh nhau
Bảng dưới so sánh các cách ước tính tuổi thường dùng. Không có phương pháp nào áp dụng tốt cho mọi cây; hồ sơ tốt thường kết hợp ít nhất hai cách.
| Phương pháp | Cách làm | Mạnh ở | Yếu ở |
|---|---|---|---|
| Đếm vòng năm qua lõi khoan | Khoan lấy que gỗ, mài, đếm và đo vòng | Chính xác với loài có vòng rõ, thân còn đặc | Cây nhiệt đới vòng mờ; thân rỗng mất vòng già; có nguy cơ nhiễm bệnh qua lỗ khoan |
| Quy đổi từ chu vi | Đo chu vi ở 1,3 m, chia cho tốc độ lớn bình quân của loài ở vùng đó | Nhanh, rẻ, không xâm hại | Tốc độ lớn thay đổi theo tuổi, đất, khí hậu, cạnh tranh; dễ sai gấp đôi |
| Cacbon 14 | Lấy mẫu gỗ ở phần trong cùng còn lại, đo tỷ lệ đồng vị | Cho niên đại khách quan của mẫu gỗ | Tốn kém; mẫu phải ở gần tâm; với gỗ vài trăm năm, đường hiệu chuẩn có đoạn phẳng làm khoảng tuổi rộng |
| Tư liệu lịch sử | Đối chiếu văn bia, sắc phong, gia phả, ảnh, bản đồ cũ, lời kể có mốc | Gắn cây với bối cảnh cụ thể, không cần can thiệp cây | Chỉ cho mốc tối thiểu ("đã có cây từ…"); dễ lẫn cây hiện tại với cây cũ cùng chỗ |
Điều cần ghi nhớ là tư liệu lịch sử thường chỉ cho biết cây đã tồn tại từ một thời điểm, không cho biết cây mọc từ khi nào. Còn quy đổi từ chu vi thì cho một con số có vẻ chính xác nhưng dựa trên giả định tốc độ lớn, giả định này phải được nêu ra.
Quy đổi từ chu vi: cách dân dã và những cái bẫy
Cách phổ biến nhất ngoài thực địa là đo chu vi rồi chia cho tốc độ tăng chu vi bình quân. Ở Anh có một quy tắc kinh nghiệm quen thuộc là cây trong không gian mở tăng chu vi khoảng 2,5 cm mỗi năm, được dùng để ước tính tuổi các cây sồi, cây thủy tùng cổ. Nhưng chính các nhà nghiên cứu đề ra quy tắc ấy cũng lưu ý nó chỉ đúng gần đúng cho vài loài trong điều kiện châu Âu, cây già lớn chậm hơn nhiều so với tuổi trẻ.
Áp quy tắc ngoại nhập cho cây Việt Nam là sai từ gốc. Một cây đa, cây gạo ở đồng bằng ẩm, đất phù sa có thể lớn nhanh gấp nhiều lần một cây thông hay cây pơ mu mọc trên sườn núi đá, gió mạnh, đất nghèo. Ngay trong một loài, cây đứng riêng giữa sân đình được nhiều ánh sáng lớn nhanh hơn cây cùng tuổi trong rừng phải cạnh tranh. Cách làm đúng là dùng tốc độ lớn đo được cho chính loài đó, ở vùng có điều kiện tương tự, và tính một khoảng tuổi thay vì một con số.
Một cái bẫy khác là cây nhiều thân nhập lại. Họ Dâu tằm như đa, si, sanh có rễ phụ bám quanh thân và dần hoà vào nhau, có khi bọc cả một cây chủ đã mục. Chu vi đo được khi đó là của cả một khối nhiều thân, chia cho tốc độ lớn sẽ ra một tuổi phồng lên rất nhiều. Với nhóm cây này, chu vi gần như vô nghĩa để tính tuổi.
Tư liệu làng và lời kể: đọc sao cho tỉnh táo
Ở làng Việt, nguồn tư liệu về cây phong phú hơn người ta nghĩ. Văn bia trùng tu đình chùa thường nhắc cảnh quan quanh di tích; gia phả các dòng họ lớn có khi ghi việc trồng cây ở nhà thờ họ; ảnh chụp thời Pháp của các nhà nghiên cứu, nhà nhiếp ảnh ghi lại cổng làng, sân đình với cây đã lớn. Những nguồn này giúp đặt một mốc chắc chắn: tại năm đó, cây đã đứng đó và đã to đến mức đó.
Lời kể của người cao tuổi cũng có giá trị nếu gắn với sự kiện có mốc rõ, như "năm Ất Dậu đói, cây đã to bằng hai người ôm". Nhưng lời kể kiểu "cây có từ thời lập làng" thì rất khó dùng, vì lập làng có khi cũng chỉ là truyền thuyết. Cũng cần phân biệt cây hiện tại với cây cũ cùng vị trí: nhiều nơi cây gốc đã đổ, cây mới mọc từ rễ hoặc được trồng thay, nhưng câu chuyện và tên gọi được giữ nguyên.
Cách làm thận trọng là ghi từng căn cứ kèm mức tin cậy, rồi đưa ra khoảng tuổi giao nhau giữa các căn cứ. Một hồ sơ ghi "ước tính 250 đến 350 năm, dựa vào văn bia năm … và tốc độ lớn của loài ở đồng bằng Bắc Bộ" đáng tin hơn nhiều so với tấm biển ghi "500 năm" không căn cứ.
Vì sao các con số "nghìn năm" nên đọc chậm lại
Con số tròn là dấu hiệu ước đoán. Năm trăm, tám trăm, một nghìn năm thường đến từ cảm nhận hoặc truyền miệng, ít khi từ phép đo. Khi thấy con số tròn, hãy hỏi căn cứ là gì.
Cây to chưa chắc đã già. Kích thước phụ thuộc loài và nơi mọc nhiều hơn phụ thuộc tuổi. Một cây bạch đàn trồng vài chục năm có thể to hơn một cây kim giao vài trăm năm trên núi đá.
Thân rỗng không nói lên tuổi. Rỗng ruột là chuyện của nấm mục và loài gỗ, không phải chỉ của tuổi. Gỗ mềm như đa, gạo rỗng sớm; gỗ cứng như lim, nghiến chậm rỗng hơn.
Kỷ lục cần đối chiếu. Trên thế giới, những cây được xác định tuổi rất cao một cách chắc chắn thường là loài lá kim ở vùng khô lạnh, sống chậm, như thông Great Basin ở Mỹ, có tuổi được xác định nhờ vòng năm rõ. Với cây nhiệt đới, công bố tuổi rất cao cần được xem là ước tính có biên độ rộng.
Ví dụ giả định: ghép các căn cứ thành một khoảng tuổi
Hãy hình dung một cây lim cổ ở khuôn viên một ngôi đền vùng trung du. Đây là ví dụ giả định để minh hoạ cách suy luận, các con số không phải số đo của cây thật nào. Chu vi đo ở 1,3 m là khoảng 3,8 m, tức đường kính khoảng 1,2 m. Số liệu đo ở rừng trồng cùng vùng cho thấy lim lớn chậm, đường kính tăng trung bình vài milimét mỗi năm khi cây đã lớn. Chia ra, ta được một khoảng rộng, chẳng hạn từ 200 đến 400 năm, tuỳ giả định tốc độ.
Tiếp theo, tấm bia trùng tu đền ghi năm cụ thể, tả cây lim đã "che rợp sân". Như vậy, tại năm đó cây đã lớn, nghĩa là tuổi hiện nay không thể thấp hơn số năm kể từ khi dựng bia cộng thêm vài chục năm để cây đạt kích thước "che rợp". Mốc này loại bỏ được phần thấp của khoảng ước tính từ chu vi.
Cuối cùng, nếu có điều kiện khoan lõi ở phần ngoài thân, độ rộng vòng gần đây giúp kiểm tra lại tốc độ lớn giả định. Kết quả hợp lý là một khoảng hẹp hơn, chẳng hạn 280 đến 380 năm, kèm ghi chú căn cứ. Cách trình bày này trung thực hơn một con số duy nhất, và người đọc sau có thể điều chỉnh khi có thêm tư liệu.
Câu hỏi thường gặp
Có cách nào biết chính xác tuổi cây cổ thụ mà không chặt cây không?
Gần như không có cách cho con số chính xác tuyệt đối với cây cổ thụ đang sống. Khoan lõi đếm vòng năm cho kết quả tốt nhất ở loài có vòng rõ và thân còn đặc; với cây rỗng ruột hay loài nhiệt đới vòng mờ, mọi phương pháp chỉ cho một khoảng ước tính.
Khoan lấy mẫu có làm chết cây cổ thụ không?
Một lỗ khoan nhỏ thường không làm chết cây khoẻ, nhưng có thể mở đường cho nấm, vi khuẩn xâm nhập, nhất là ở cây đã suy yếu. Với cây di sản, chỉ nên khoan khi có người chuyên môn, dụng cụ sạch và mục đích rõ ràng.
Đo chu vi rồi chia cho 2,5 cm có ra tuổi cây không?
Quy tắc 2,5 cm mỗi năm là kinh nghiệm cho vài loài cây ở châu Âu trong không gian mở, không áp dụng được cho cây Việt Nam. Tốc độ lớn khác nhau rất nhiều theo loài, đất, khí hậu và tuổi cây, nên phải dùng số liệu tốc độ lớn của chính loài ở vùng tương tự.
Vì sao cây đa khó xác định tuổi nhất?
Cây đa thường rỗng ruột nên mất vòng năm già, lại có rễ phụ nhập vào thân làm chu vi phình to không phản ánh tuổi. Gỗ đa mềm, lớn khá nhanh ở vùng ẩm. Vì vậy tuổi cây đa cổ thụ chủ yếu dựa vào tư liệu lịch sử và chỉ nên ghi là ước tính.
Định tuổi bằng cacbon 14 có dùng được cho cây cổ thụ không?
Có thể, bằng cách lấy mẫu gỗ ở phần trong cùng còn lại của thân rồi đo đồng vị. Phương pháp này tốn kém, cần phòng thí nghiệm chuyên môn, và với gỗ vài trăm năm tuổi khoảng niên đại sau hiệu chuẩn có thể khá rộng, nên thường chỉ dùng cho cây có giá trị nghiên cứu đặc biệt.
Tấm biển ghi tuổi cây có đáng tin không?
Tấm biển thường ghi tuổi ước tính trong hồ sơ công nhận. Mức tin cậy tuỳ vào căn cứ mà hồ sơ dùng. Nếu muốn biết rõ, hãy hỏi đơn vị quản lý cây xem con số dựa vào văn bia, tư liệu, đo đạc hay lời kể.